PHẠM TÂY SƠN

TỔ QUỐC VIỆT NAM – DANH DỰ – ĐỒNG BÀO TRÊN HẾT Thông tin để khai trí và phát triển.

Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa 10

Phạm Thành

10.

Dân nước đang đói ăn.

Nhà tôi đang đói ăn.

Cha tôi còn đang bị sốt ngã nước, ốm yếu, sau khi đi Dân công hỏa tuyến về, thế mà ngoài đình tiếng trống, tiếng chiêng gọi nhau đi đấu tố cứ leng lẻng. Hôm thì chúng gọi nhau họp kín, hôm thì chúng gọi nhau họp hở, hôm thì chúng eo éo gọi nhau ra đình làng để hội họp. Họ đều làm theo lệnh của Hò Văn Đản.

Hò Văn Đản là ai mà khuynh đảo dân Mynga ghê gớm như vậy?

Trước hết, phải nói cho rõ, ông ta là người anh em bên họ ngoại của nhà tôi. Ông ta có cha một cách không rõ ràng.

Mẹ ông ta cũng là một con đèn, hát hay múa giỏi, hay tham gia các trò văn nghệ, hát xướng, nhưng mãi không có người lấy về làm vợ, bởi mang tiếng trong dân rằng, cô ta có cái lồn nhưng lại là cái lồn chột.

 

Cái tích lồn chột của cô ta xuất phát từ một sự việc có thật.

Hồi cô ta ở tuổi dậy thì. Một lần cô ta đi lấy rong lợn dưới sông Cầu Chày thì bị đỉa chui vào trong bướm hút máu. Đỉa hút máu no nê, nhưng lại không chịu chui ra mà quyết ở lại trong đó làm tổ. Lúc đầu, cô ta cũng không biết là đỉa đã chui vào trong bướm hút máu, cô ta chỉ thấy ngứa ngáy, khó chịu ở trong đó, nhưng vì xấu hổ cô ta không dám nói cho ai biết. Đến khi thấy bướm sưng to, người phát sốt, phát rét lên, người nhà mới vội vàng đưa cô ta đến bệnh viện để xem khám và chữa trị.

Cũng phải mất vài ngày sờ nắm, soi chiếu, các bác sĩ mới phát hiện được trong bướm của cô ta có cả một hệ thống tổ đỉa đang hoạt động.

Cô ta phải lên bàn mổ.

Đỉa được gắp ra, bệnh của cô ta khỏi, nhưng trong bướm cô ta, bác sĩ nói: “Có cơ man nào là sẹo”. Vì bướm mang sẹo, đám thanh niên trong nước thi nhau tung hô lên là: “Cô bướm sẹo”, “Cô bướm chột”.

Nhưng rồi qua thời gian thử thách, cái cụn từ “bướm chột” trở thành tên gọi chính thống, mỗi khi dân Mynga nói về cô ta. Chính vì mang danh này mà cô ta rất khó có thanh niên nào trong làng dám lấy làm vợ.

Nhưng vì cô ta hát hay, múa giỏi, cuộc vui văn nghệ nào cô ta cũng được mời đến tham dự và cũng vì hay tham dự như vậy mà cô ta có chửa khi nào cũng không hay.

Khi thấy bụng mình ngày một to lên, cha mẹ ả mới biết. Cha mẹ ả liền đem ả tặng không cho một tay tá điền đang làm công cho một nhà địa chủ ở làng bên. Tại đây, nhờ có thầy thuốc Ký Định dùng độc chiêu vồ sàm mà ả sinh được một cậu con trai kháu khỉnh, đặt tên là Đản. Giấy khai sinh là Hò Văn Đản.

Nhưng cậu Đản có một điều kỳ lạ, khác người là ở phía hàm dưới và phía sau cổ của Đản có những vệt đen, trông giống hệt những con đỉa đang hút máu và chim của cậu ta có những ba vòng khoang trắng quấn quanh theo hình xoắn ốc.

Khi Hò Văn Đản được dăm tuổi thì cha hờ của ông ta bị rắn cắn mà chết. Chuyện này cũng có điển tích rõ ràng.

Người cha hờ này, một bận đi săn ếch ở các bụi rưới, bụi dứa. Khi đi săn, ông ta chỉ mặc độc một cái quần đùi cộc.

Một buổi trưa, khi ông ta đang thiêm thiếp ngủ dưới bóng dâm của một cây rưới, bất ngờ ông ta thấy nhói ở đầu chim.

Vội vàng ngồi bật dậy, đảo mắt nhìn xung quanh không thấy có gì lạ, ông ta cho rằng, chắc có con kiến càng nào đó vừa cắn chim ông ta. Ông ta lại tiếp tục đi săn ếch.

Nhưng chỉ một lúc sau, ông ta thấy nhưng nhức ở chim. Ông ta buộc phải tụt quần ra nhìn thì thấy cái chim của ông ta đã sưng lên và chuyển từ màu đen khoang trắng sang màu tím.

Ông ta vội vàng chạy về nhà.

Gia chủ cho rằng, ông ta bị rắn trùn độc cắn, khẩn chương chạy tìm thày lang chuyên chữa rắn cắn để chữa cho ông ta.

Ông ta được uống thuốc, được đắp lá vào chim, được uống thứ nước trong cái điếu bát hút thuốc lào lâu ngày[1].

Ông ta không chết ngay, nhưng cái chim thì cứ sưng to lên, màu chim, từ tím chuyển dần sang màu đen, rồi nó chảy nước có máu đen lẫn máu đỏ, rồi lở loét, rồi bốc mùi hôi thối tanh lợm. Ông ta vẫn tiếp tục uống và đắp thuốc của thày lang rắn. Nhưng cái chim ông ta cứ thối, cứ cụt dần cho đến khi từ khúc trong của chim rỉ ra máu đen và bốc mùi hôi thối kinh khủng độ vài ngày thì ông ta đành phải bỏ đời mà đi.

Từ rắn cắn vào chim, đến cái chim bị thối rửa dẫn đến cái chết của ông ta mà dân Mynga mới đẻ ra một thuật ngữ mới: “Cái cặc thúi”. Tất nhiên, trong câu tục ngữ này còn có hàm ý, cái chim ông ta lần đầu tiên biết đến bướm đàn bà, nhưng cái bướm đó lại là một cái bướm cũ. Cặc mới chui vào bướm cũ, thì chỉ có cái cặc thúi mới có thể vui vẻ mà chui vào như vậy.

Dân Mynga cứ bảo Hò Văn Đản là đứa con hoang, nhưng khi xem dấu ấn di truyền trên người Hò Văn Đản thì hình như là không phải.

Trên cổ ông ta có những vệt đen như những con đỉa đang hút máu và chim của ông ta có ba vòng trắng cuốn theo hình xoắn ốc, chẳng phải là chính bản di truyền từ cái lộn chột và cái cặc thúi của cha mẹ ông ta để lại mà có hay sao?

Giáo sư Hà Độ vẫn còn cho đây là một nghi án lịch sử. Giáo sư đã bỏ nhiều công sức tìm hiểu và nghe đâu đã viết thành sách nhưng không dám công bố ra.

Khi cha ông ta không may mà chết, cụ ngoại nhà tôi, tức là bà của bác giáo Mai nhà tôi động lòng thương người, mới rước mẹ con Đản về nuôi.

Đản cũng được đi học ở trường làng, nhập tâm được vài, ba chữ Hán, chữ Tây, chữ Quốc ngữ, còn tính toán thì chưa thạo các phép tính căn bản của toán học.

Khi ở bên cụ ngoại nhà tôi, công việc chính của Hò Văn Đản là làm ruộng, chăn trâu bò.

Ông ta được trời cho cái tính nhanh nhẹn, tháo vát nên làm gì cũng ưng mắt cụ ngoại nhà tôi.

Chính vì thế mà khi hắn đến tuổi lập gia đình, Đản được ông bà cụ ngoại nhà tôi tìm vợ và cưới xin cho đàng hoàng.

Được cụ ngoại nhà tôi tính công làm thuê cho vợ chồng ông ta và rộng lượng cấp cho vợ chồng ông ta vài sào ruộng với cái nếp nhà tranh để ra ở riêng.

Làng nước dư luận, Đản có số đỏ mới được cụ ngoại nhà tôi ưu ái như vậy.

Vì thỉnh thoảng sang ngoại, nên bác tôi, cha tôi biết Đản từ khi ông ta còn nhỏ.

Chẳng ai có thể ngờ, mấy chục năm sau, Hò Văn Đản lại là linh hồn, là tay lái cách mạng vĩ đại ở nước Mynga, thực thi đường lối đấu tranh tàn sát con người, phá hoại đất nước không ghê tay, gớm máu đến như vậy.

Điểm khởi đầu để ông ta thành nhà cách mạng vĩ đại lại chính là cha tôi, người đã đưa ông ta vào tổ chức, rồi đào tạo, nâng đỡ mà thành.

Ông ta vào đảng là do chính cha tôi muốn ông ta vào đảng.

Ấy là những năm Một chín ba mươi, cha tôi cùng các đồng chí của cha tôi phối hợp với các đảng phái khác tổ chức khởi nghĩa thành công và dựng nên chính quyền Xô viết ở một vài huyện trong nước. Cán bộ thiếu khủng khiếp đã đành mà các đảng, đảng nào cũng muốn có đông đảo các đảng viên để tạo thanh thế. Cha tôi liền nghĩ đến Đản. Đản là người nhanh nhẹn, tháo vát, rất cần cho phong trào lúc này. Hơn nữa, xét về chữ thì ông ta là người sáng dạ, lại có ít chữ Hán, chữ Tây, chữ Quốc ngữ.

Tuy nhiên, trong lòng cha tôi không ưa ông ta lắm vì cái tính quá giảo hoạt của ông ta.

Cha tôi có bàn với bác tôi về chuyện này.

Cứ tưởng bác tôi sẽ quyết liệt phản đối, nào nghờ bác tôi lại động viên cha tôi:

“Được đấy. Hội kín, hội bí mật, hội ma lanh, xảo thuật rất hợp với thằng này. Chú cứ đưa hắn vào cho hắn đóng góp. Thằng ấy, nhà cũng chẳng còn gì, nhưng hắn có tính tắt mắt. Nhà hắn không có thì hắn đi ăn cắp, ăn trộm của người ta. Thế nào hắn chẳng kiếm được. Nhà mình, anh giáo Mai chẳng đã đem hết của cải ra đóng góp. Chẳng có của đâu mà đóng góp mãi vào đó. Khéo không rồi tiền mất, tật mang đấy. Thóc đâu mà đãi gà rừng[2], mãi được, cái giống vật ăn xong rồi quẹt mỏ”.

Tôi không rõ cha tôi được dân Mynga mệnh danh là ông trùm Cộng sản của nước Mynga, học được Mác, An ghen, Le nin bao nhiều chữ và qua thử thách cách mạng những gì, bao phen mà nghe bác tôi khen ngợi Hò Văn Đản thế, cha tôi, miệng cũng tủn tỉn cười.

Nhưng bác tôi cũng lưu ý cha tôi:

“Loại người này rất có tài hóng hớt và học lỏm rất nhanh, biến báo và ứng đối cũng rất nhanh, lấy mồm miệng đỡ chân tay, rất phù hợp với bối cảnh xã hội lúc tranh tối, tranh sáng.

Loại người này cũng có hạn chế là không có khả năng đọc sách, nghiên cứu, để hiểu sách đến nơi đến chốn. Đạo đức của loại người này, chỉ tốt khi gần người tốt, nhưng sẽ xấu khi gần người xấu”.

Cha tôi cung kính:

“Vâng, em sẽ để ý”.

Chính từ lời động viên của bác tôi mà cha tôi quyết định dẫn dắt đưa Hò Văn Đản vào tổ chức, đào tạo để trở thành người cách mạng của nước Mynga. Cha tôi tin chắc, Hò Văn Đản sẽ nhận lời. Cha tôi cũng tin, nhất định tổ chức sẽ đồng ý, vì cách mạng đang cần người, vì Hò Văn Đản ít ra cũng là con người tháo vát, trí trá, rất phù hợp với thời kỳ tranh tối, tranh sáng lúc này, nhất là khi phải đối phó với địa chủ, tư sản ma cô, nhiều xảo thuật.

Cha tôi tự tin đến nhà Hò Văn Đản rủ rê:

“Anh Đản này. Tôi muốn đưa anh vào tổ chức”.

Hò Văn Đản cười không ra khẩy, không ra hí hí, mắt liếc qua mặt cha tôi, trả lời có vẻ khinh khỉnh:

“Uầy, uầy, tôi vào tổ chức?”

Cha tôi khảng định:

“Vâng. Tôi muốn giới thiệu anh vào. Một là cho có anh có em, thêm mạnh phe, mạnh cánh. Hai là, nước Mynga còn phải mở rộng bộ máy lãnh đạo, tôi muốn anh cũng có một chân”.

Hò Văn Đản nghe cha tôi mời, lúc đầu chỉ cười cười. Cái trán hẹp nhưng cao nhiu nhíu vài đường nhăn cuối trán, ra chiều còn lương lự đôi phân.

Sống đã mấy chục năm với nhau, cha tôi lại thông minh, lọc lỏi, ngang dọc không lạ cái nhăn trán, cái cười khẩy không ra khẩy, cái nhìn chéo đôi con ngươi của Hò Văn Đản sang người khác. Biết là Đản đã ưng thuận, mặt cha tôi vốn dĩ đã đỏ lại đỏ gay đỏ gắt hơn lên, tay đưa lên che miệng như che một điều gì bậy bạ vừa phát ra từ miệng.

Cha tôi được cái tướng quý đó. Dù trong bụng no đói thế nào, mặt lúc nào cũng đỏ tươi. Cả làng, cả vùng quý cha tôi trước hết là ở cái mặt đỏ. Sau đó mới đến ông là con nhà quan. Sau nữa, cha tôi cũng là người giỏi chữ có tiếng trong nước, lại nhanh nhẹn, hoạt bát, nói cười hào sảng, thích giao lưu với con nhà giầu, kẻ có học, và lại còn thích chơi với bọn trộm cắp lưu manh nữa. Bởi thế, cha tôi thông thạo đồng đất, đường đi lối lại khắp cả nước. Ông điểm mặt đủ các tên, các biệt danh nhà có của, nhà không có của trong nước. Ông cũng tính sổ có bao nhiêu kẻ ăn mày, thằng ăn cắp ở trong nước. Bởi vậy mà cha tôi là một người nổi tiếng thông thái.

*

Nước Mynga, cứ năm ngày chợ Bản họp một phiên.

Sau chợ Bản họp một ngày, cha tôi dẫn Hò Văn Đản đi giới thiệu với tổ chức. Cha tôi bị bất ngờ khi Hò Văn Đản khoe trong túi ông ta đã có tới năm đồng bạc.

Tổ chức tiếp ông ta. Thấy ông ta góp quỹ những năm đồng bạc thì ai cũng tròn mắt ngạc nhiên. Số tiền đó, trừ bác giáo Mai nhà tôi ra, ông ta làm sao có nổi? Nhưng tiền là tiền, không thể có lý thuyết nào bác bỏ hoặc thay đổi được.

Tổ chức thấy năm đồng, đưa mắt nhìn cha tôi ra ý thán phục, đã tìm được một người giỏi giang, có của nả đưa vào tổ chức.

Từ năm đồng bạc đó mà tổ chức chẳng hỏi để Hò Văn Đản phải thề bồi gì thêm nữa. Tổ chức liền giao cho cha tôi làm thủ tục kết nạp Hò Văn Đản vào đảng ngay tối hôm đó. Tên Hò Văn Đản được ghi vào sổ danh sách những đảng viên chính thức, lớp kết nạp trong thời kỳ đầu cách mạng của nước Mynga.

Lúc trên đường về, cha tôi có dặn dò Hò Văn Đản:

“Anh phải nhớ, anh chỉ mới là đảng viên dự bị. Anh phải chịu kiêng khem một năm”.

Hò Văn Đản cười cười hi hí, đáp:

“Những một năm”.

Cha tôi nói chắc nịch:

“Vâng! Đúng một năm”.

Ý cha tôi muốn Hò Văn Đản đừng có ăn cắp, ăn trộm, trai gái, đĩ điếm một cách lộ liễu mà phải kiêng khem một năm để thành đảng viên chính thức cái đã, lên giữ chức này, chức nọ trong nước Mynga cái đã.

Chẳng biết trong lòng Hò Văn Đản nghĩ gì, chỉ thấy ông ta gật gật cái đầu như là đồng ý.

Lúc lội qua sông Cầu Chày, thấy Hò Văn Đản khịt khịt mũi mấy lần, cha tôi liền hỏi bâng quơ:

“Hình như có mùi gì hôi hôi?”.

Hò Văn Đản cười hí hí ranh mảnh:

“Mùi thịt trâu chết ấy mà”.

Chợ Bản mới họp hôm qua, sông Cầu Chày có mùi thứ phế thải của gia cầm, gia súc chết là chuyện bình thường.

Qua sông, hai người rảo chân bước về làng.

Khi đến đầu xóm Trại, cũng là ngã rẻ để người nào về làng người ấy, bỗng nhiên nghe tiếng ai quát:

“Đứng lại. Giơ tay lên”.

Cha tôi giật bắn mình, cứ tưởng rơi vào ổ phục kích của lính dỏng, cả hai cùng đưa tay lên trời. Đêm không tối lắm.

Cha tôi nghe giọng hô, đoán ngay là tốp lâu la của xóm nào rồi.

Cha tôi hỏi:

“Các anh là người bên Trại hử?”.

“Câm mồm. Giơ tay lên”.

Ba bốn người di súng (có lẽ là súng) vào lưng cha tôi, ông bác họ ngoại nhà tôi, bắt phải đứng yên để họ dùng thừng trói nghiến lại.

Khi cả hai đến đầu làng Trại, bổng nghe văng vẳng tiếng chửi của bà Hà Độ:

“Quân ăn máu lồn bà. Trời tru đất diệt bọn bay đi, gia đình bọn bay đi, họ hàng nhà bay đi”.

Hò Văn Đản nghe bà Hà Độ chửi, tủm tĩn cười.

“Đúng, bọn nào ăn trâu nhà bà thì trời tru, đất diệt hết chúng nó đi”.

Cha tôi nghe bà Hà Độ chửi, biết chắc trâu chết bốc mùi trên sông là trâu nhà Hà Độ, đêm qua bị kẻ trộm đánh cắp, làm thịt, bán. Biết năm đồng bạc của Hò Văn Đản vừa nộp cho tổ chức lúc chiều ngày là từ đâu mà ra. Nhưng con trâu cũng chỉ bán được đến năm đồng là cùng, sao Hò Văn Đản lại nộp hết cho tổ chức?

Cổng nhà Hà Độ mở ra, dẫn hai đảng viên, một kỳ cựu, một mới kết nạp vào nhà.

Nhưng khi cha tôi và Hò Văn Đản đã vào phía trong cổng nhà Hà Độ thì nhoàng một cái, cha tôi chẳng nhìn thấy Hò Văn Đản đâu nữa.

Người nhà Hà Độ hô hoán ầm ĩ lên, dáo dác đâm bổ ra cổng lùng sục, tìm bắt. Nhưng đã không tìm thấy.

Cha tôi ngẫm trong bụng: “Tài thật, rõ ràng là đã thấy Hò Văn Đản bước vào phía trong cổng”.

Nghe mất một thằng trộm, máu tiếc của của vợ bác Hà Độ sôi lên, nhảy bổ vào xỉa xói cha tôi đủ điều bỉ ổi. Cha tôi vẫn tỏ ra bình tĩnh. Vợ bác Hà Độ chửi gì cha tôi cũng mặc kệ, nhưng đến khi bà nhảy lên định túm áo cha tôi thì bị cha tôi vung chân lên, dứt khoát đạp mạnh vào chân bà Hà Độ. Bà Hà Độ bị đòn đánh trả khá bất ngờ của cha tôi bổ nhào xuống đất. Mấy đứa con trai, con gái nhà Hà Độ thấy vậy, xông lên đấm đá túi bụi vào thân thể cha tôi.

Cha tôi vừa lùi, vừa né, vừa đỡ đòn, nhưng cũng không thể tránh hết. Buộc lòng cha tôi phải hô hoán lên:

“Ngừng tay. Vương đây. Phạm Vương của nước Mynga Xô viết đây”.

Cha tôi năm, sáu lần hô: “Phạm Vương đây. Phạm Vương Xô viết đây”, mới thấy bác trai Hà Độ loẹt quẹt đôi guốc mộc, xách cái đèn dầu Hoa kỳ có nắp đậy bằng một cái vỏ chai, từ trong nhà bước ra, miệng hỏi:

“Vương nào? Vương của nước Mynga Xô viết mà đi ăn trộm trâu à? Cộng sản à”.

Cha tôi đáp lại một cách cáu kỉnh:

“Vương của nước Mynga đây. Trộm cái con củ cặc gì?”.

Bác Hà Độ vẫn làm ngơ trước lời chửi tục tằn của cha tôi, vẫn ngầm cho vợ con ông ta chửi bới và đấm đá vào thân thể cha tôi. Mãi đến khi cha tôi lớn giọng doạ:

“Hà Độ, muốn chết cả nhà hả?” thì bác trai Hà Độ mới hô đám con cháu dừng tay lại và loẹt quẹt đôi guốc mộc tiến sát lại phía cha tôi.

Đến gần cha tôi, bác trai Hà Độ khua khua cây đèn dầu lên trước mặt cha tôi, bất ngờ nhận ra ánh đỏ từ mặt cha tôi hắt lại ánh đèn, bác trai Hà Độ mới vội vàng gạt tay bác gái Hà Độ ra, miệng gỉa vờ ấp a ấp úng:

“Ôi, bác Vương. Bác Phạm Vương thật..”, và chính tay bác trai Hà Độ vội vàng cởi trói cho cha tôi. Chính bác trai Hà Độ cầm tay cha tôi dắt vào nhà.

Việc đầu tiên bác trai Hà Độ tỏ ra quý trọng cha tôi là sai đám con cháu thắp lên một vài cái đèn dầu nữa và bảo bà vợ ông ta đem thau nước nóng vào cho cha tôi rửa mặt. Bác gái Hà Độ thấy chồng mình ra lệnh một cách dứt khoát, miệng lập tức cũng im bặt. Sau khi bê chậu nước cho cha tôi rửa mặt, bác lạch bạch đi xuống bếp đun nước pha trà.

Không biết xương cốt cha tôi có bị trầy vẩy, tím tái ở chỗ nào không, nhưng hai má bị bầm dập, trán sưng u lên, chậu nước rửa mặt đỏ lòm những máu, nhưng cha tôi vẫn không chịu nhả ra một vài lời kêu ca, oán trách nào, bình thản trò chuyện với bác trai Hà Độ.

Bác trai Hà Độ ân cần hỏi:

“Bác Vương đi đâu mà về khuya khoắt thế này?”.

Cha tôi xẳng giọng:

“Anh em tôi đi tuần”.

“Thế còn cái anh đi với bác đâu rồi?”.

“Anh Đản nhà tôi đấy mà. Hôm nay cũng vừa kết nạp anh ấy vào tổ chức”.

“Thế hử. Vào tổ chức nào? Việt Cách, Việt Quốc hay Việt Cộng sản?”.

Cha tôi đáp cụt lủn:

“Vào Việt Cộng sản”.

Bác trai Hà Độ nghe thế cười lên sằng sặc:

“Bọn chuyên đào tường, khoét ngạch cũng vào được tổ chức Cộng sản à?”.

“Bọn đào tường khoét ngạch nào? Ông liệu liệu cái mồm ông lại. Đó là ông chủ tịch tương lai của nước Mynga Xô viết ta đấy”.

“Thế ư?”, bác Hà Độ đưa tay bịp miệng cười của bác ấy lại, rồi vội lái câu chuyện sang hướng khác:

“Tôi nghe nói bọn Tây nó sắp đánh vô Mynga ta, đúng không ông?”.

Cha tôi sừng sộ:

“Ông nghe ai nói vậy?”.

“Hôm qua tôi lên chợ Bản tìm trâu, thấy có nhiều người bàn tán như vậy”.

“Không đúng đâu. Chỉ có Mynga ta sắp đem quân đi đánh Tây, chứ Tây làm sao có thể đánh vô Mynga ta được. Ông nghe tuyên truyền của địch rồi”.

“Ấy là tôi nghe vậy”.

“Ông nghe vậy là nghe sằng, nghe bậy là tuyên truyền cho địch. Dân ta nô lệ cả trăm năm, có biết bao nhiêu người bị chết đói, nay chính quyền đã ở trong tay ta, bọn Tây làm sao còn thắng ta được nữa. Dân ta bình thường thì cam tâm bị đè nén, nhưng hễ cứ có người đứng ra chiêu tập quân quyền đánh giặc thì người theo như nước. Tây làm sao còn thắng ta được nữa!”.

Cha tôi bỏ chậu nước đứng lên. Bác trai Hà Độ đỡ lấy khăn mặt, rủ khô vài lượt rồi phơi lên sợi dây thép kéo ngang trên kèo hè.

Bác trai Hà Độ a dua:

“Tôi cũng nghĩ như quan bác”.

Cha tôi hăng hái:

“Thế cách mạng bây giờ đang như nước cuốn. Ai theo thì còn tồn tại, chứ không theo thì không biết sẽ sống chết thế nào”.

Cha tôi vừa nói vừa nhìn thẳng vào mặt bác trai Hà Độ, đôi con ngươi đen như hạt na nhóng nhánh, đôi con mắt hình quả cau nheo nheo. Cha tôi chủ động đổi đề tài câu chuyện:

“Ông Hà Độ này. Nhà ông đã đóng góp gì cho tổ chức chưa, nhẩy?”

“Tôi đã. Thóc tôi góp chỉ kém có nhà anh giáo Mai thôi”.

“Nhưng mà là kém một trời, một vực”. Cha tôi còn khảng định: “Bác giáo Mai nhà tôi đóng góp nhiều đến mức không biết là bao nhiêu tạ thóc, bao nhiêu là cân vàng. Còn bác đóng nhiều nhưng là bao nhiêu? Thôi, nhưng, nhiều ít gì cách mạng cũng quý. Cũng là nhờ người nhà ông bắt nhầm tôi về đây, nhân thể tôi thay mặt tổ chức mời ông đóng góp tiếp”.

Nghe đến đóng góp tiếp thì mặt bác trai Hà Độ biến sắc, vội chặn lời cha tôi lại:

“Đấy, quan bác cứ xem, nhà tôi có còn gì nữa đâu. Xin quan bác cứ đi vào buồng nhà mà kiểm soát”.

Không cho Hà Độ thổ lộ tâm can, cha tôi cáu lên:

“Tôi chẳng phải kiểm soát. Trâu nhà ông còn mấy con. Nhà ông thấy lúc nào cũng tụ tập nhiều người. Ông cứ nhìn cái mặt tôi đây, đủ biết người nhà nhà ông còn khoẻ tới mức nào?”.

“Ấy, ấy, sao bác Vương lại nói thế. Vợ chồng tôi có lời xin lỗi bác rồi mà”.

Bác Hà Độ nói xong thì loẹt quẹt đôi guốc đi xuống bếp.

Cha tôi ngồi lại một mình, đang nghĩ cách gì trị cho bác Hà Độ một mẻ thì nhận thấy có tay ai vỗ nhè nhẹ vào vai. Quay người lại, ngạc nhiên,… Hò Văn Đản. Đúng là Hò Văn Đản

Hò Văn Đản thì thào vào tai cha tôi:

“Thóc nhà nó ủ trong đống rơm, còn cả đống”.

Cha tôi hỏi:

“Nãy giờ anh ở đâu?”.

“Ẩn trong gầm bàn thờ”, Hò Văn Đản vừa thì thầm vào tai cha tôi vừa chỉ vào gầm bàn thờ nhà bác Hà Độ.

Cha tôi:

“Tưởng anh chạy trốn ra ngoài rồi chứ?”.

Hò Văn Đản:

“Xông ra ngoài có mà bọn chúng rượt theo, tóm cổ, đánh què tau rồi. Ẩn ở đây mới chắc chứ”.

Cha tôi khen:

“Anh tài thật”.

Hò Văn Đản cười hí hí.

Cha tôi khen mà rùng mình nghĩ đến cái tài ma mảnh của ông anh họ ngoại xa Hò Văn Đản mà âu lo:

“Trốn ngay trong gầm bàn thờ nhà Hà Độ là một chiêu tinh quái thượng hạng. Hò Văn Đản chỉ mới biết lem nhem vài chữ Tàu mà có lối thoát hiểm cứu mạng như một nhà binh pháp tài ba của nước Tàu Dưới chân đèn thì tối.

Cha tôi lại khen: “Anh giỏi thật đấy”. Khen, nhưng cha tôi cũng thoáng nghĩ đường xa mà nghi ngại:

“Nay mai hắn có chân trong bộ máy lãnh đạo cách mạng ở nước Mynga mà cái tính lưu manh ít nhiều không thay đổi thì đến khổ dân, hại nước là không thể tránh khỏi”.

Hò Văn Đản cười hí hí:

“Có chi mô. Chi mô”.

Một lúc sau, theo sau bác trai Hà Độ, bác gái Hà Độ bê lên một mâm ăn. Trên mâm chỉ độc một con gà luộc với một chai rượu quốc lủi, nút lá chuối.

Trước khi hạ mâm xuống cỗ phản ngựa để ở giữa nhà, bác trai Hà Độ trịnh trọng:

“Có duyên thì cách gì cũng gặp nhau. Từ hồi khởi nghĩa thành công đến nay, hôm nay mới được dịp cùng quan bác uống một chén đạm bạc. Trước là mừng quan bác đến nhà. Hai là chuộc lỗi với quan bác”.

Cha tôi không khách sáo:

“Thôi thì bác Hà đã có lòng. Anh em tôi xin được uống với bác vài chén rượu nhạt”.

Cha tôi vẫn có cái tật ấy, ai mời cỗ bàn thịnh soạn đến mấy cũng chỉ đáp từ bằng: “Xin uống chén rượu nhạt”.

Khi nghiêng người đưa chén mời về phía cha tôi, bác Hà Độ chợt nhận ra Hò Văn Đản đang thập thò phía sau lưng cha tôi. Bác Hà Độ lúng túng chỉ tay về phía Hò Văn Đản, hỏi cha tôi:

“Bác này là…”.

Cha tôi không để cho bác Hà Độ nói hết, chen vào, giọng oang oang:

“Đấy, anh Đản, ông anh họ nhà tôi đấy mà. Tôi vừa đưa anh Đản đi kếp nạp vào tổ chức. Bây giờ anh cũng là đảng viên Cộng sản rồi”.

Bác Hà Độ nhanh nhẩu:

“Mời quan bác lên ngồi cùng uống với anh em tôi chén rượi nhạt”.

Hò Văn Đản cười hí, hí, có vẻ khoái chí:

“Vâng. Vâng. Quan bác có lòng thì anh em tau có bụng”.

Hò Văn Đản lẹ làng đưa chân lên bộ cỗ ngựa làm bằng gỗ lim đen bóng của nhà bác Hà Độ, rồi nhanh nhẹn ngồi xếp bằng trong một góc của phản. Nét mặt Hò Văn Đản tươi hẳn lên mà không cần biết lời mời của bác Hà Độ có thật bụng hay không. Hò Văn Đản cho rằng, con gà trống to như thế, bác Hà Độ mời Hò Văn Đản ăn là thật lòng.

Cha tôi thì lại không nghĩ như vậy.

Bác Hà Độ là một nông dân có chữ, lại kiêm nghề dạy học. Bác mời Hò Văn Đản là vào tình thế phải mời, chứ thực bụng thì chưa hẳn. Một người luôn bắt vợ con mình phải ăn tiêu dè sẻn, còn mình dạy học chỉ chăm chắm kiếm tiền, không dễ thật lòng khi phải mất miếng với người khác. Cứ như cái giọng lúc trước thì trong bụng bác Hà Độ chẳng coi Hò Văn Đản ra gì.

Trong đầu cha tôi vẫn đọng những lời của bác Hà Độ:

“Hò Văn Đản mà cũng là người nằm trong tổ chức Cộng sản ư? Cái thằng, chữ mới thạo đánh vần, lại thông thạo nghề đào tường, khoét ngạch. Nhà nghèo mà thấy cô nào vú to, mông nở, phúng phính là mắt cứ dán vào đó. Vụ cắp trộm nào ở trong nước mà Hò Văn Đản không dính vào. Ấy mà nhoàng một cái, hắn trở thành người của Cộng sản”.

Cha tôi và bác Hà Độ đã uống cạn hai chén rượu mà chén rượu của Hò Văn Đản chỉ mới vơi đi một ít. Bác Hà Độ giục mấy bận cạn chén, Hò Văn Đản mới chịu nâng chén lên, nhưng không uống cạn. Lại, cha tôi và bác Hà Độ, mỗi người đã ăn hết một cái đùi gà mà Hò Văn Đản chưa chịu nhúng đũa. Đến khi chính bác Hà Độ gắp cho cái thủ và một đoạn cổ gà, Hò Văn Đản mới chịu mở miệng ra nhai.

Bác Hà Độ và cha tôi cứ rì rầm câu chuyện về việc Pháp sắp đánh vào Mynga và nghe đâu trên miền núi, người Mèo cũng đang chuẩn bị đón vua mới về.

Hò Văn Đản ngồi nghe hai người thì thào nhưng không có bất cứ một ý kiến tham góp nào. Có lẽ, Hò Văn Đản không biết. Hơn nữa, Hò Văn Đản cho đó là chuyện chính trị nên không có ý tham gia. Ông ta như một người khiêm tốn nhẫn nhại ngồi nghe, chẳng khác gì một con chó đang nằm im trong bụi rậm phục mồi.

Để bác Hà Độ khỏi xót xa cái thủ gà gắp cho Hò Văn Đản, cha tôi nói với bác Hà Độ:

“Tới đây có lẽ tôi sẽ chuyển địa bàn hoạt động. Người thay thế tôi là anh Đản đây”.

Bác Hà Độ nghe xong tóc gáy dựng lên, ra vẻ kinh hãi.

Ăn xong, uống vài chén trà, cha tôi và Hò Văn Đản chào vợ chồng bác Hà Độ rồi ra về.

Cha tôi vẫn không quên nhắc bác Hà Độ về chuyện đóng góp cho cách mạng.

Bác Hà Độ trả lời cha tôi giọng lí nhí:

“Tôi xin góp cho quan bác một vài chỉ vàng nữa”

Cha tôi:

“Thay mặt cho chính phủ Xô viết công nông, tôi xin tuyên dương sự đóng góp của công dân Lê Hà Độ”.

Bác Hà Độ tiễn cha tôi ra khỏi cổng, rồi cẩn thận khóa cổng lại, hai tay giơ lên trời, miệng thở phào nhẹ nhõm.

Sau khi ngó nghiêng một cách cẩn thận về phía cổng, bác Hà Độ thẻ thọt bước ra góc vườn, có cây rơm to như một quả núi ở đó. Bác Hà Độ quan sát đống rơm và toát mô hôi, đôi chân run lên, rồi ngã khụy xuống. Bác phát hiện, đúng là có người đã chui vào trong đống rơm của nhà bác. Bác Hà Độ run vì nơi giấu của cải của nhà bác đã bị lộ. May mà chưa mất đi thúng thóc nào.

*

Bác Hà Độ, trước phong trào Xô Viết những năm ba mươi thuộc dạng nhà không có kinh tế dư dả. Vợ bác làm nghề nông, bác cũng làm nghề nông nhưng kiêm nghề dạy học ở trường tư thục. May nhờ có quen biết nhà tôi, đặc biệt là có biết đôi chữ Tây bồi nên thường xuyên dẫn mối cho Tây, Ta về nhà bác tôi hoặc dẫn lối đưa bác tôi lên đồn Tây, Ta đánh bạc mà bác tích cóp được tiền bạc sắm sanh của cải, rồi mua được vài mẫu ruộng, dựng được ngôi nhà năm gian. Nhờ chịu khó tích cóp, ăn tiêu dè sén mà trong nhà bác lúc nào cũng có vài tấn thóc, vừa dự trữ phòng xa, vừa là để đầu cơ sinh lời.

Nghe cha tôi bảo phải tiếp tục đóng góp để nuôi quân đánh giặc, họng bác Hà Độ đã như tắc nghẽn lại. Bác buộc phải mất vài chỉ vàng cho cách mạng, chứ thực lòng bác không muốn mất đi một tí của cải nào mà bác đã tích cóp được. Thực bụng của bác là:

“Đóng góp cho cách mạng, cái từ nghe hay lắm, bùi tai lắm, nhưng với Hà Độ này thì cái từ ấy như một cái rách nứa đang cựa quậy trong ruột ta mà thôi. Đóng với chả góp, nuôi quân với chả nuôi cướp, có mà âm mưu nẩng tay nải của ông đi thì có. Với Hà Độ này, đóng góp tiền của để nuôi quân đánh giặc, cũng chẳng khác chi tay nải của ta vừa bị bọn cướp nẩng mất”.

Bác Hà Độ, bản chất chỉ thích làm giầu, có nhiều tài sản, chứ bác không muốn dây vào chính trị hay chính em làm gì.

Thóc, ngô của nhà bác Hà Độ chưa bị chính quyền Xô Viết đến lấy thì lính Ta, lính Tây ầm ầm kéo về. Chính quyền Xô Viết non trẻ do cha tôi đứng đầu tan rả nhanh chóng. Cha tôi buộc phải bỏ làng, sống chui nhủi trong rừng núi, lập chiến khu và thành lập đội vũ trang đi vào kháng chiến trường kỳ với lính Tây, lính Ta như ông Nghè Tống Duy Tân trước đây đã làm.

Hò Văn Đản mất tăm từ dạo ấy.

Có người đưa thông tin, ông ta đã bị mất mạng trong lúc Tây nổ súng tiêu diệt phong trào Xô Viết công nông non trẻ rồi.

Có người bảo, ông ta bỏ làm cách mạng, sắm dao kéo, đồ nghề hành nghề hoạn lợn hay quét sơn gì đó kiếm sống rồi.

Có người lại bảo, ông ta đi theo Tây, làm mật thám cho Tây rồi.

Một thời gian sau, phong trào lập chiến khu đánh Pháp, đuổi Nhật ngày một phát triển sâu rộng, ngày một dâng cao trong cả nước.

Những người lãnh đạo cách mạng chủ chốt của phong trào dường như không còn mấy ai nhớ đến Hò Văn Đản nữa, thì bất ngờ ông ta xuất hiện trở lại nước Mynga với tư cách cán bộ Cộng sản Quốc tế, có nhiệm vụ trực tiếp lãnh đạo phong trào Cộng sản nước Mynga. Ông ta liền viết và cho đăng trên báo Cơ đỏ một bài báo gây tiếng vang lớn: Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta. Sau đó ông ta triệu tập một cuộc họp quan trọng với tất cả các thủ lĩnh cách mạng trong nước Mynga và ban sắc lệnh:

Tổng khởi nghĩa trong cả nước.

Tổng khởi nghĩa thành công.

Với tấm thẻ cán bộ Cộng sản Quốc tế, Hò Văn Đản nghiễm nhiên trở thành lãnh tụ của nước Mynga với chức danh Tổng bí thư, cha tôi vẫn giữ chức Chủ tịch nước.

Sau Cải cải cách, cha tôi bị đánh đổ, các lực lượng không cộng sản bị tiêu diệt và bỏ chạy khỏi nước Mynga. Nước Mynga trở thành một nước do Cộng sản cầm quyền, thực thi công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước trên toàn cõi Mynga theo học thuyết Xã nghĩa của Mác – An ghen- Lê nin; lấy Xô Liên làm trung tâm thành trì; lấy Quốc Cộng làm chỗ dựa cho công cuộc đấu tranh, xây dựng và bảo vệ nước Mynga Cò hồn Xã nghĩa[3].

 

Vọng

Bác Hà Độ từ trong mộ nghe câu chuyện phục kích bắt cha tôi và Hò Văn Đản ngày trước thì cựa quậy, rồi phá lên cười, thú nhận:

“Tao đây. Tao sai người di súng vào lưng bố mi. Bắt bố mi. Sai người đấm đá bố mi. Cha mi nhân danh cách mạng đi ăn cướp. Ăn cướp một vài lần còn được, chứ cứ nhân danh cách mạng đi ăn cướp mãi đâu có được. Cha mi nhân danh cách mạng đi ăn cướp tránh sao cho khỏi bị quả báo. Sau này, cái giá mà cha mi phải trả là cha mi cũng bị Hò Văn Đản cho Đội Cải cách đến bắt, giải ra đình cho cả nước đấu tố, nhục nhã còn bằng mấy tao. Thân phận lãnh tụ một thời của cha mi có khác đéo gì tao. Tao, một thằng giáo làng, một thằng nghiện cờ bạc, tổ tôm bị đấu đá đã đành, cha mi từng là cấp trên của hắn, đào tạo hắn, lại bị chính hắn đấu mới nhục nhã, mới khốn nạn thân phận. Đúng là:

Chưa đánh được người thì mặt đỏ như vang,

nhưng,

Đánh được người rồi thì mặt vàng như nghệ[4],

đớn đớn, nhục nhã còn hơn cả tao”.

 

 

[1] Kinh nghiệm chữa rắn cắn thường áp dụng trong dân gian.

[2] Tục ngữ Việt Nam.

[3] Kể từ khi Cộng sản cầm quyền, nước Mynga rơi vào chiến tranh liên miên:

– chín năm đánh Pháp, kết thúc vào năm 1954;

– hơn hai mươi năm đánh Mỹ, kết thúc năm 1975;

– hơn mười năm đánh Khơ mer đỏ, kết thúc vào năm 1989.

– từ năm 1979, cả dân tộc lại phải gồng mình chống giặc Tàu, cuộc chiến này đến bây giờ vẫn chưa kết thúc.

Chiến tranh đã làm:

– hơn bốn triệu người bị chết;

– đất nước bị tàn phá nặng nề;

– đạo đức con ngươi bị băng hoại,

– nòi giống bị suy thoái trầm trọng.

 

[4] Thành ngữ Việt Nam.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: