PHẠM TÂY SƠN

TỔ QUỐC VIỆT NAM – DANH DỰ – ĐỒNG BÀO TRÊN HẾT Thông tin để khai trí và phát triển.

Tiểu thuyết cò hồn xã nghĩa.

Badamxoe = Phạm Thành

Tiểu thuyết Cò hồn xã nghĩa (2)

Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa(3)

Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa (4)

Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa (5+6)

Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa (7)

Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa (8)

Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa (9)

Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa 10

Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa 11

Không biết có phải tác giả đánh số lộn hay không, tôi tìm Bài 12 không có, chờ tôi hỏi lại Tác giả.

Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa 13

Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa 14

Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa 15.

Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa 16.

Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa 17

Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa 18.

Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa 19 + 20

Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa 21

Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa 22.

Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa 23

Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa 24

Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa 25.

Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa 26.

(Còn nữa)

Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa (1)

Kính đến bà con.

Phạm Thành - Bà Đầm Xòe

Phạm Thành có cuốn tiểu thuyết “Cò hồn Xã nghĩa” ( 220.000 từ) “bán không ai mua, cho không ai lấy”, chắc là nó dở ẹc?, ngay cả Văn đòan độc lập với những nhà văn, nhà thơ lừng danh như: Nhà văn Nguyên Ngọc, Nhà văn Bùi Ngọc Tấn, Nhà văn Võ Thị Hảo, Nhà văn Trang Hạ, Nhà văn Trần Thùy Mai, Nhà thơ Ý Nhi, Nhà ngôn ngữ học Hoàng Dũng, Nhà thơ Bùi Chát cũng không thể xài. Thôi thì hay dở gì nó cũng là đứa con tinh thần của mình, đành khai sinh nó trên blog của mình với thời lượng mỗi tuần (vào thứ 7) post lên một đoạn, khoảng 3.000 từ. Mong bà con đọc và góp ý để Phạm Thành tiếp tục hoàn thiện.

Trong khi post từng đoạn tiểu thuyết nếu bạn đọc nào cần đọc trọn vẹn tiểu thuyết thì emai địa chỉ cho Phạm Thành (theo email của blog Bà Đầm xòe), Phạm Thành sẽ gửi sách cho bạn.

Có thể nó dở ẹc, hoặc ăn giải No ben không biết chừng, Phạm Thành vẫn giữ quyền tác giả, ai muốn sài nó nhất thiết phải được sự đồng ý của tác giả.

Kính chào bà con.

Phạm Thành

1

Người nào rồi đến lúc cũng muốn bỏ đời mà đi.

Trong sự sống chập chờn, Tự Do như tàu lá héo, dường như tôi cũng đến lúc muốn bỏ đời mà đi.

Bỗng gặp một kỳ nhân, dáng bệ vệ, người tầm thước, có khuôn mặt chữ điền, da đen bóng loáng, hai mắt lộ to dưới đôi lông mày rậm, trông hao hao giống ông trạng Mạc Đĩnh Chi nước mình.

Người này nói: “Đừng chết vội, có tôi ở bên cạnh, cố mà sống có ích thêm vài năm nữa. Mà muốn chết hãy đến khu nghĩa địa nước Mynga xem mình sẽ nằm ở chỗ nào, hướng nào?”.

Tôi choàng dậy, thấy đầu óc minh mẫn, sức lực như ở đâu đó hội tụ về, ngước mắt nhìn xem kỳ nhân này là ai.

“Nguyễn Hữu Luyện. Người đó là Dân công hỏa tuyến, là Kỹ sư xây dựng, kiêm nghề xem phong thủy, là bạn thân thiết của tôi… Nguyễn Hữu Luyện”.

*

Theo gợi ý của Nguyễn Hữu Luyện, tôi mò ra khu nghĩa địa của nước Mynga.

Khu nghĩa địa này, dân gian gọi là khu sinh phần[1], nằm ở phía Bắc thủ đô nước Mynga, trên một khoảng đất rộng, bốn xung quanh có đồi núi, sông suối bao quanh:

phía Bắc giáp nước Tàu,

phía Tây giáp nước Tượng Vạn và nước Chùa Tháp,

phía Đông giáp Biển Đông,

mang tên: “Nghĩa trang Cò hồn Xã nghĩa Mynga”.

Tôi hiểu ngay rằng, Cò hồn Xã nghĩa là một cái tên đẹp. Cái tên có kế tục truyền thống những con cò hồn, biểu tượng của giống dòng Lạc – Hồng, thấy tạc nhiều trên trống đồng Đông Sơn, nay nó được gắn kết với búa và liềm, biểu tượng mới của thời đại Xã nghĩa. Nó đẹp không chỉ ở con chữ mà còn đẹp ở nội dung, vì trong cái tên Cò hồn Xã nghĩa ấy, đã “gói” cả quá khứ, hiện tại và tương lai của nước Mynga ở trong đó rồi.

Dân My nga đeo cái “gói” ấy ở bên hông, đội ở trên đầu, thành tâm tề tựu, xếp thành hàng, thành lối, rồi hối hả hành quân; hối hả thẳng tiến lên tầm cao của thời đại mới – Thời đại Xã nghĩa – Thời đại Hò Văn Đản.

*

Trong khu nghĩa địa sinh phần này, có cơ man nào là sinh phần.

Sinh phần có cái thì to;

có cái thì nhỏ;

có cái có bia mộ;

có cái chỉ như một thúng đất úp xuống;

có cái lại tựa như một luống khoai chạy dài chừng ba mét, đúng mẫu mực với đường lối “ba tấc đất” [2] cho “người về”;

có cái thì tròn;

có cái lại vuông;

có cái hình lục lăng;

có cái lại to đùng, to đoàng như Kim tự tháp.

Hướng những sinh phần trong khu sinh phần này có đủ cả chín phương, tám hướng. Không thấy có sự tập trung:

đâu là hướng triệt, hướng sinh?

đâu là hướng lầm than, khổ hạnh?

Đâu là hướng sinh vua, sinh chúa?

đâu là hướng cho dân giầu, nước mạnh, tự do, ấm no, hạnh phúc?

Hướng như vậy, thầy phong thủy có giỏi giang đến mấy cũng đành bó tay khi phán, tức chẳng biết nói thế nào cho đúng lý, phải lẽ với gió và nước.

*

Tôi có cảm tưởng khu sinh phần này được xây dựng bởi một cộng đồng cư dân thập cẩm, vì gì đấy mà về đây chung chạ, vì gì đấy lại lặng lẽ rời đi, nên mới thiết kế khu sinh phần đủ cho các hướng và kiến trúc từng ngôi mộ linh tinh lang tang như vậy. Nó in đậm nét của một cộng đồng dân cư không vững bền, quen với lối sống“được chăng hay chớ”[3], biết ngày nay mà không biết tới ngày mai.

Sinh phần ở khu nghĩa địa còn cho biết rằng, dân tộc này có cái gì đó như là chưa trưởng thành, chưa có một triết luận cội nguồn căn bản để được toàn nhân loại công nhận là một dân tộc đã trưởng thành.

Nếu đem thuyết phong thủy người xưa đã đúc kết thành sách ra soi chiếu ở khu sinh phần này thì thấy cái luật này, hoặc là vô giá trị, hoặc là vô cùng có giá trị?

Tôi quan sát kỹ càng một lượt rồi hoang mang vì chẳng biết mình chết thì chôn ở đây theo hướng nào để sinh phần sinh sôi; để con cháu tôi đời đời không là vua chúa thì ít ra cũng phải là công hầu, khanh tướng?

*

Người vô thần Cộng sản quan niệm “chết là hết, sống thì còn”, nhưng xem ra không đúng ở khu sinh phần này.

Có người chết chỉ khiêm tốn hưởng đúng“ba tắc đất”. Nhưng có người lại bành trướng, khoe khoang chiếm những ba ngàn tấc đất. Có người ghi tên tuổi trên bia mộ đàng hòang, có người lại không ghi, thậm chí có người đến cái bia cắm trên đầu mộ cũng không có.

*

Thời Mynga Cò hồn Xã nghĩa có năm người nổi tiếng nhất, cũng nằm trong khu sinh phần này.

Một người là cha tôi, ghi danh trên mộ là Phạm Vương, nhà cách mạng Cộng sản tiền bối, tạ thế ngày…

Một người có tên là Hò Văn Đản, ghi danh lãnh tụ cách mạng Cộng sản vĩ đại của nước Mynga Cò hồn Xã nghĩa, vĩnh viễn ra đi ngày…

Ba người còn lại đều sống cùng thời với cha tôi và nhà cách mạng vĩ đại kia.

Một người ghi danh là bác sĩ Vũ Minh Quân, tạ thế ngày….

Một người ghi danh là giáo sư Lê Hà Độ, tạ thế ngày…

Một người ghi danh là anh hùng lực lượng vũ trang Cao Công Thắng, tạ thế ngày…

*

Cả năm đều là nông dân tích tụ từ khí thiêng sông núi bốn ngàn năm con Rồng, cháu Tiên của nước Mynga mà sinh ra, mà lớn lên, rồi chết.

Cả năm đã lìa cõi đời, nhưng chỉ có bốn người được về với đất, được vĩnh viễn bó chặt trong ba tấc đất và có cùng hướng sinh phần.

Còn một người, tuy cũng đã chết, nhưng lại chưa được về với đất. Mộ người này nằm trên đầu mộ bốn người kia với hướng sinh phần ngược lại và được xây vừa cao, vừa to bằng cốt thép, xi măng; lại còn trang trí bằng đá hoa cương ốp ở bên ngoài lăng mộ; thường xuyên có một tiểu đội lính canh gác cả ngày lẩn đêm, hai bốn trên hai bốn giờ. Ông này được bọn lâu la trong cái bang do ông ta đứng đầu tung hô: “Cha già dân tộc” – Cha của chính ông bà tổ tiên mình.

*

Tôi chưa biết chọn chỗ nào? Nhưng chọn chỗ nào cũng phải thỏa mãn mong ước, con cái tôi sinh ra không làm vua thì phải làm chúa hoặc ít ra phải là công hầu khanh tướng, chỉ dưới một người trên vạn người.

Băn khoăn về hướng các sinh phần ở trong nghĩa trang này, tôi bèn lác nhìn đến khu mộ to đùng của Hò Văn Đản. Chẳng biết có nên chọn theo hướng của ông này không? Ông ta là vua đấy, nhưng cai trị thì vừa ác độc vừa ngu dốt, tiếng nguyền rủa ông ta cũng thật nhiều; rồi chuyện vợ nọ, con kia, nhăng nhăng, nhít nhít cả một bầy của ông ta nữa.

*

Bốn cao nhân của Mynga cứ khoái trá mãi về điều này. Họ không ghen tỵ cái nhà chứa xác sao lại làm to đến thế mà hả hê thấy thân phận người này luôn bị canh giữ, cô đơn không người trò chuyện. Thân thể bị phanh ra, lòng ruột tim gan bị bới ra, tung tóe như bị tứ mã phanh thây thời man rợ.

Dân Mynga tâm niệm: “sống sao chết vậy”[4], âu cũng là sự công bằng của tạo hóa chăng?

Người này khi sống chưa bao giờ thực tâm với người. Lúc ông ta thấy cười có lợi thì đến con ông ta chết, ông ta cũng cười. Lúc ông ta thấy khóc có lợi thì ngay cả lúc đang hành sự yêu nhau, ông ta cũng khóc.

Cuộc đời với ông ta luôn là một sân khấu lớn.

Ông ta nhờ có tố chất thiên bẩm lưu manh ngoại hạng mà trở thành nhà đạo diễn sân khấu đại tài, vô tiền khoáng hậu của nước Mynga thời Cò hồn Xã nghĩa. Người khác đối với ông ta chỉ có vai trò diễn viên. Ông ta chính là quỷ trưởng của cả một đám ma nhân khi sinh ra chỉ là cục máu đỏ bơ vơ nằm trên đám cỏ dại.

Ông ta được đám loạn dân, thảo khấu Mynga tung hô là lãnh tụ cách mạng Cộng sản vĩ đại và được nghiêm trang sùng kính nhất nước Mynga tính từ khi mẹ Cơ, cha Quân[5] khai thiên lập địa ra nước Mynga này, tức là tận năm số không kéo dài cho đến bốn ngàn năm, tức bây giờ.

Ông ta chính là Hò Văn Đản.

*

Một người khác, cũng là nông dân, hành nghề chăm sóc thịt, da, xương cốt, tim , óc… cho người, rất thạo dùng dao kéo cắt thịt người chỗ này, vá víu vào người chỗ kia; cắt xương cốt người này, nối vào xương cốt người kia; hoặc đơn giản là vứt mẹ nó đi cho động vật ăn thịt nhai.

Người này còn kiêm thêm nghề đào bới, hành xác tổ tiên, và “ngôn luận” của ông ta, cứ mở miệng ra là:

“bốn ngàn năm lịch sử”,

là:

“ con Rồng, cháu Tiên”.

Người này có tên: Bác sĩ Vũ Minh Quân.

*

Một người khác, cũng là nông dân, làm nghề nhồi sọ người bằng vô số những ký tự a,b,c… Mỗi ký tự khi bật khỏi miệng ông ta đều đã được cái lưỡi của ông ta nhào nặn cùng nước bọt và bụi phấn lẫn vi trùng.

Ông ta mở miệng ra là:

“My nga ngàn năm văn hiến”,

là:

“Mynga nhân bất học bất tri lý”,

là:

“Mynga nhất tự vi sư, bán tự vi sư”.

Người này có tên: Giáo sư Lê Hà Độ.

*

Một người khác, cũng là nông dân, chuyên hành nghề bắn giết, coi con người như bia tập bắn, mở mồm ra là:

“lồn chột và cặc thúi”.

Người này là anh hùng lực lượng vũ trang, có tên: Cao Công Thắng.

*

Còn một người, vừa là bạn, vừa là anh em, vừa là thù với mấy người kia, cũng là nông dân nhưng kiêm nghề cách mạng nửa mùa, để rồi phải vào tù ra tội như cơm bữa, lăn lộn, quần thảo với đất nước để có lương thực, thực phẩm tống vào bụng hàng ngày. Người này mở miệng ra là:

“Không làm việc với quân vô học”,

là:

“Thừa lồn gả con cho quân vô học”,

là:

“Dẫm phải cứt chẳng lẽ lại chặt chân đi”[6],

là:

“Mynga làm gì có Dân chủ hay Cộng hòa hay Xã nghĩa”, mà chỉ có: “CÒ HỒN XÃ NGHĨA” mà thôi.

Người này là cha tôi, nhà cách mạng Cộng sản: Phạm Vương.

*

Tất cả họ đều là những người nổi tiếng của nước Mynga, rất chi là yêu quý quê hương, thuộc nhừ nhoèn: “Quê hương là chùm khế ngọt”[7].

Họ không còn sống ở cõi người nữa, nhưng những câu chuyện về họ còn ở lại cùng trời đất, gió mưa. Hình hài họ còn đọng trong tâm trí mọi người. Tiếng nói của họ cứ thi thoảng lại vọng về. Riêng tôi, những khi tâm trạng thăng hoa trong cô đơn buồn thảm hay reo vui, tôi thường đến nói chuyện với họ, hoặc ít ra tôi âm thầm lắng nghe câu chuyện của họ.

Hôm nay cũng vậy, trong một chiều chạng vạng, trời đất xầm xì, lại có mưa rơi ri rích, gió mùa Đông Bắc lại tràn về, tâm hồn tôi trở nên trống trải, có phần buồn thảm, có phần cô liêu nên tôi lại đến với họ.

Họ, khi sống thì được: “mỗi người mỗi nết”;

khi chết cũng được: “mỗi người mỗi mộ”[8].

Tất cả họ, người thì da thịt đã về với đất hết trơn. Người thì sâu bọ, côn trùng đang làm nhiệm vụ phân hủy. Lý do là họ tạ thế khác ngày, khác tháng, khác năm. May mà cả bốn người đều được chôn chung trong một khoảnh đất và đặc biệt có hướng sinh phần như nhau. Họ như một tiểu đội đang dăng hàng ngang nằm ngửa, kề cận bên nhau, như là họ vĩnh viễn chỉ còn biết ngửa mặt lên ngắm trời xanh, gào với trời xanh.

Tôi thắp hương, vái lạy cả bốn người.

Hương cháy rần rật lan tỏ vào không trung, vương vít trên ngọn cỏ xanh và âm thầm ngấm vào khe đất của từng ngôi mộ.

 

*

Vọng

Tôi nghe cha tôi nói với mấy ông:

“Các ông ơi, mỗi khi tôi hát: “Quê hương là chùm khế ngọt/ Cho con trèo hái mỗi ngày[9]tôi lại thấy mình như một kẻ bất lương. Bất lương kệ bất lương, tôi hát tiếp cái đã: “Quê hương nếu ai không nhớ/ Sẽ không lớn nổi thành người”[10], tôi lại thấy tôi như một kẻ khốn nạn”.

Rồi chẳng biết cha tôi đau đớn gì mà hát to hơn nữa lên:

“Bớ mấy thằng con hoang, đừng giương cặp mắt ốc nhồi trắng dã nhìn ông như thế. Đừng ngăn ông hát như thế. Các người là ai? Các người có phải là bọn người chỉ sống nay đây mai đó. Các người sinh ra ở rừng núi hoang dại thì làm gì có quê hương mà hiểu quê hương mà thao láo con mắt, mà sầm mặt sừng sộ ngăn ông hát”.

Giáo sư Hà Độ, người nằm cạnh cha tôi nhất, cũng là thày giáo của tôi cười “hì hì” rồi bình luận:

“Tự hào đấy. Tự hào đấy”.

Cậu Cao Công Thắng, anh hùng lực lượng vũ trang, người nằm kề cạnh bác Hà Độ, thân thể chỉ còn là một bộ khung xương chi chít những lỗ thủng do bị đạn xuyên bom cắm, tôi tưởng không còn mồm miệng để kêu lên, nhưng không, tôi đã nhìn thấy miệng cậu ấy há to ra như cái gầu giai, quát tướng lên:

“Tự hào cái con khỉ”.

Giáo sư Hà Độ, giọng rất chi là minh triết, nhưng lại rền rỉ:

“Mi im mồm cho tau nói hết. Như mọi người thôi, ai chẳng có một quê hương để thương, để nhớ, để giận, để hờn, để đỏ con mắt, để rỉ máu con tim”.

Cha tôi vẫn cao giọng hát:

“Quê hương mỗi người chỉ một

Như là chỉ một mẹ thôi”[11].

Cậu Cao Công Thắng lại ngoặc cái miệng gầu giai ra, “hích hích” như một con chuột cống nghiến rằng:

“Thôi, anh câm cái mồm đi. Cái thằng Đản nó mang nhiều quốc tịch đấy. Cái con mẹ người Tàu của nó, nó còn yêu hơn cái con mẹ Việt đẻ ra nó ở nước Mynga nhà anh đấy. Quê hương cái lồn chột”.

Bác Hà Độ lập tức cười lên “hì hì”:

Cái lồn chột là cái đéo gì? Ngu. Cái mắt chột”.

“Hích, hích”… miệng gầu giai của cậu Cao Công Thắng lại tung tóe nước bọt ra, bám nhòe nhoẹt quanh miệng, nghe như tiếng chuột cống mài răng:

“Ngu. Cái lồn chột mới lạ, tao mới nói chứ cái mắt chột, ai cũng biết, nói làm đéo gì”.

Chỉ với cái lồn chột và cái cặc thúi mà câu chuyện của bốn ông thật sự xôm xả. Ai biết cái lồn chột như thế nào? Ngay cả cậu Cao Công Thắng nhà tôi bao giờ cũng sử dụng nó làm câu phá, câu kết trong giao tiếp chuyện trò, có khi cũng không biết nó chột như thế nào? Nó thúi như thế nào?.

May có bác Hà Độ tiếp nối câu chuyện bằng một bình luận:

“Cái thằng, hắn cứ hay nói chữ khác người, thực ra hắn có biết, có thấy cái lồn chột, cặc thúi bao giờ đâu? Tôi làm nghề dạy học, có thấy giáo trình nào soạn về cái khoản ấy đâu?”.

Bốn người lại cười nghiêng nghiêng, ngả ngả.

Cậu Cao Công Thắng lại cao giọng hô lên:

“Ngã cái lồn chột. Ngã cái cặc thúi”.

Bác sĩ Minh Quân coi cái lồn chột và cái cặc thúi như một vật thể nghiệm của nghề Y; thân thể bác lại đang ở kỳ phân rả đau đớn, hầm mộ đang còn sục mùi thịt người, cũng tưởng bác chỉ đủ sức để nghe, ấy mà bác vẫn lên tiếng xía ngang hồi cười đang nghiêng nghiêng, ngả ngả của ba ông, bằng một câu hỏi ba ông như cố ý chuyển đề tài:

“Các ông có biết sông núi của Mynga mang tinh thần gì không?”

Không nghe ai nói lại gì, bác sĩ Minh Quân tự tin hát lên:

“Nó mang tinh thần của cây cỏ, đất đá.

Đó, đó.

Nó xanh tươi trên mặt đất, dưới chân người.

Nó như trời xanh hôm nắng, hôm mưa.

Nó như mặt đất hôm khô, hôm ướt.

Nó có lúc cao rộng.

Nó có lúc xanh tươi.

Nó có lúc đen thẩm, đen xì như bốn ngàn năm sông núi.

Nó có lúc thấp tè như mặt đất.

Nó có lúc nhô cao như mấm mồ, giống như núi Nội ở phía trước mặt nước Mynga ta, nơi Bà Triệu sinh ra, lớn lên, rồi khởi nghĩa.

Nó là nấm mồ vẫn đen xanh tròn xếp liền nhau như voi phục, hổ quỳ, bao quanh sông núi nước Mynga ta”.

Giáo sư Hà Độ lầu bầu:

“Chúng ta đã là công dân của hầm mộ, không nên xúc phạm về hầm mộ cổ xưa ấy”.

Thấy giáo sư Hà Độ lầu bầu rồi cười cười như cười đểu mình, bác sĩ Minh Quân xị mặt xuống:

“Cười gì? Cười gì? Ông là người, tôi cũng là người. Ông có quê hương, tôi cũng có quê hương. Ông yêu gì, ghét gì? yêu ai, ghét ai? hãy cứ ôm chặt nó ở trong lòng ấy.

Hãy học cụ Thích ca mâu ni đi ra giữa cánh đồng mà ngắm mây xanh, trò chuyện cùng bùn, đất.

Ở đó chẳng thấy sự đểu cáng nào đâu, hoặc ít ra bạn sẽ quên đi sự đểu cáng, dối trá của bọn cầm quyền.

Ở đó, bạn mới được tự do ôm đất vào lòng, tự do làm con chó chạy rông, quẩy cựa, đào bới; tự do làm con giun dũi đất cho nhà nông; làm con ngao, con hến ngậm cát, nhả ngọc cho đời…”.

Cậu Cao Công Thắng “hích hích”, cáu kỉnh:

“Hát cái đéo gì mà bi lụy thế? Sao ông không ước làm đại bàng bay lượn trên chín tầng cao cho nó khoáng đạt, cao rộng? Sao ông không ước là hổ, báo làm chúa sơn lâm cho nó oai, cho dễ dàng hạ gục đồng loại? Làm con giun đất, con ngao, con hến cả đời mà vẫn chưa chán sao?”

Bác sĩ Minh Quân như không nghe thấy, tiếp tục hát:

“Sự sống muôm năm là từ đất, nước mà ra.

Đất, nước sinh ra cây cỏ.

Cây cỏ sinh ra chim chóc, muông thú, sinh ra người.              

Ốc, hến chuyên ăn bùn, ăn đất –

Ốc hến là nhân dân;

Đại bàng, hổ báo chuyên ăn thịt đồng loại –

Đại bàng là hổ báo, là quan lại.

Quan lại xưa nay vẫn luôn là kẻ hút máu dân, vì thế mà dân sợ phải biến mình thành ngao, hến chúi trong bùn để kiếm ăn, ẩn nấp.

Người tử tế phải luôn luôn đứng về phe nước mắt.

Hò Văn Đản, lãnh tụ vĩ đại của Mynga ta đã dạy: “Trong trời đất không có gì quý bằng nhân dân?”. Nhân dân là muôn thuở: “Dĩ dân vi bản” – “Chèo thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”[12].

Cậu Cao Công Thắng cáu kỉnh:

“Thằng ấy chỉ nói hay ở cái lỗ mồm, còn làm thì thối như cứt ba nắng. Hắn bảo:“Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng”[13]. Thế mà khi về với tổ tiên, cái nhà của nó to bằng cả ngàn nhà của người khác cộng lại.

Hắn lại bảo: “Trong trời đất không có gì quý bằng nhân dân”. Thế mà hắn nhẫn tâm ném cả mấy chục triệu đồng bào của hắn vào lò lửa chiến tranh, ác còn hơn dã thú. Chẳng biết cái thằng ấy sinh ra từ cái lồn chột và cái cặc thúi nào mà ghê gớm thế. Hắn học mót rất là nhanh. Hắn lừa người đến là tài. Đến trời cũng không biết, đến quỷ cũng không nhận ra. Chỉ đến khi hắn về Âm phủ, Diêm Vương lập tức ném hắn vào vạc dầu sôi, nguyên hình của hắn mới lộ hẳn ra, bàn dân Mynga mới biết chính xác hắn ta là ai. Ghê gớm thật”. (Còn tiếp)

 

 

[1]Dân Việt gọi mộ chôn người là sinh phần, tức là phần đất sống và sinh sôi sau khi chết, vì họ quan niệm rằng, chôn người chết đúng chỗ, đúng hướng, con cháu sẽ được phát tích theo ước muốn.

[2] Người Việt quan niệm, ai cuối cùng cũng phải chết, rồi chôn trong diện tích đất rộng ba tấc.

[3] Thành ngữViệt Nam.

[4] Thành ngữ Việt Nam.

[5] Theo truyền thuyết, mẹ Âu Cơ và cha Lạc Long Quân sinh ra dân tộc Việt trong một cái bọc có trăm quả trứng.

[6] Tục ngữ Việt Nam: “Dẫm phải cứt chảng nhẽ lại chặt chân đi”.

[7] Thơ Đỗ Trung Quân.

[8] Thành ngữ Việt Nam: “Sống mỗi người mỗi nét/ Chết mỗi người mỗi mồ”.

[9] Thơ Đỗ Trung Quân.

[10] Thơ Đỗ Trung Quân.

[11] Thơ Đỗ Trung Quân.

[12] Câu nói của ông Nguyễn Trãi.

[13] Câu nói của ông Tôn Trung Sơn bên Trung Quốc .

*************************************************************************************************

Tiểu thuyết Cò hồn xã nghĩa (2)

Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa(3)

Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa (4)

Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa (5+6)

Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa (7)

Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa (8)

Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa (9)

Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa 10

Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa 11

Không biết có phải tác giả đánh số lộn hay không, tôi tìm Bài 12 không có, chờ tôi hỏi lại Tác giả.

Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa 13

Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa 14

Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa 15.

Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa 16.

Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa 17

Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa 18.

Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa 19 + 20

Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa 21

Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa 22.

Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa 23

Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa 24

Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa 25.

Tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa 26.

(Còn nữa)

 

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: