PHẠM TÂY SƠN

TỔ QUỐC VIỆT NAM – DANH DỰ – ĐỒNG BÀO TRÊN HẾT Thông tin để khai trí và phát triển.

26 NĂM LƯU ĐÀY (13)

CHƯƠNG 12

KẾT LUẬN

Nhà cầm quyền CSVN đã và đang xây dựng hàng loạt khám đường trong toàn quốc, họ bắt bớ giam cầm, nâng quan điểm, chụp mũ làm oan ức cho nhiều người vô tội. Chính họ cũng thừa nhận đã truy tố xét xử nhiều vụ án oan sai, khép với nhiều tội danh khác nhau, với khẩu hiệu “thà bắt lầm hơn bỏ sót”. Họ xây dựng nhà tù càng ngày càng nhiều thêm,“xây dựng nhà tù dễ và nhanh hơn xây trường học” bởi “ nước sông công tù” nên người tù bị cưỡng bức lao động khổ sai. Nếu thống kê nhà tù trong toàn quốc VN, chắc chắn đa phần bị bắt vào tù là tuổi thanh thiếu niên, nhất là thời điểm nhà cầm quyền CSVN đang phát động chiến dịch hạn chế nạn sinh đẻ. Dân gian thường truyền miệng, đồn đại rằng: “Nhà cầm quyền Việt Nam bắt nhiều thanh thiếu niên vào tù vừa để thực hiện Kế hoạch hóa gia đình vừa lao động sản xuất không lương”. Ngoài ra “Đa kim ngân phá luật lệ” đã trở thành lề lối công khai được áp dụng một cách triệt để trong tù.

Bản thân tôi thời gian bị cầm tù, có nhiều người đến mớm ý, khuyên tôi nên tìm cách hạ mình lo lót để được an thân, để sớm rút ngắn thời gian cải tạo. Tôi đáp lời rằng:

“Tôi tội gì mà cải tạo. Tôi thà trả giá rất đắt cho sự tự do bằng máu trong vinh dự, chứ không thể làm người được ban ân sự tự do trong khuôn khổ và phải đi bằng hai đầu gối của mình”.

Cho nên ngày cuối trước khi ra về, tôi không hổ thẹn khi thẳng thắn trả lời cuộc phỏng vấn trực tiếp có ghi âm của Ông Phó giám thị trại giam Xuân Lộc Nguyễn Quang Huy và ngày hôm sau 03.02.2005 qua đường dây viễn liên, các cuộc phỏng vấn của Cô Ỹ Lan phóng viên đài Á Châu Tự Do, Cô Đoan Trang đài Quê Hương .v.v…tôi đều trình bày rõ về quan điểm và cảm tưởng của mình như sau:

“Tôi là tu sĩ thuộc GHPGVNTN, đã bị cầm tù liên tục suốt 26 năm trong nhà tù của chế độ CS, hơn một phần tư thế kỷ, nếu so sánh với chiều dài lịch sử của cả DânTộc thì không đáng là bao, nhưng 26 năm tù so sánh với một đời người thì thật quá ư là khủng khiếp! Tôi nghĩ rằng nhà nước CSVN cũng tán đồng với tôi như thế! Chưa nói nếu so sánh với câu “Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại” mà Ông Hồ Chí Minh chỉ ở dăm ba tháng tù thôi, ông ta cũng đã than thở và thốt lên câu nói của người xưa. Như vậy 26 năm tù của tôi thì không biết bao nhiêu mùa thu mà kể. Đặc biệt, là trong thời điểm hiện nay giữa Quốc gia và Quốc tế có nhiều vấn đề rất nhạy cảm, thì việc thả tù nhân Chính Trị, tù nhân Lương Tâm, tù Tôn Giáo là điều hợp lý. Cho nên theo tôi nghĩ, việc trả tự do lần nầy không phải là do chính sách nhân đạo của nhà nước CS, mà là do áp lực Quốc Tế. Nói một cách khác, tôi khẳng định rằng nhà nước CHXHCNVN bị bắt buộc thả, chứ không phải là họ quyết định thả. Nếu nhà nước CHXHCNVN cho rằng do Chính sách nhân đạo thả tù, nhất là đối với một nhà tu đã bị giam cầm xuyên suốt 26 năm thì sự nhân đạo rất muộn màng, nếu tôi không muốn nói là quá khắt khe và tàn nhẫn ..!

Chính vì thế nên trên danh nghĩa, nói một cách hoa mỹ là “được trả tự do” mà khi về địa phương, tôi vẫn bị quản chế một cách gắt gao, còn bị phân biệt đối xử … thì chẳng khác gì tôi bị thuyên chuyển từ một nhà tù nhỏ sang một nhà tù lớn với hình thái giam giữ khác hơn mà thôi! Khi nào VN chưa có tự do, dân chủ, nhân quyền và tự do Tôn Giáo thật sự thì bản thân tôi cũng như 80 triệu đồng bào VN vẫn còn âm thầm sống trong nỗi nơm nớp lo sợ, hoài nghi, thiếu niềm tin và muôn vàn khó khăn trăn trở”.

Là thành viên của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, tôi không mong cầu, cũng như không dám đón nhận bất cứ chức phẩm nào cao của Giáo Hội tấn phong, mặc dầu có nhiều vị tôn túc đề bạt tiến cử, tôi chỉ muốn lúc nào mình cũng chỉ là một thành viên bình thường. Tôi thiết nghĩ “Bất khả tắc chỉ”, phải biết lượng sức mình và “Tri bỉ tri kỷ” biết mình biết người, tự biết bản thân tài hèn, đức bạc, trí hiểu biết nông cạn, trình độ sơ học và căn cơ còn kém thấp, thiếu phước ít tu, chướng sâu huệ cạn, nên khó mà đảm đương công việc vượt quá khả năng mình. Tôi chỉ có một tấm lòng, nhưng tấm lòng không chưa đủ…..vì Giáo Hội cần phải có những cộng sự lịch lãm, các bậc thạc đức tài năng, các tôn đức có trí tuệ tuyệt vời, các vị tăng tài thông kim bác cổ, những nhà Phật học am tường kinh điển uyên thâm, các học giả đa văn quảng kiến. Riêng tôi, tôi chỉ mạnh dạn ngẩng cao đầu về sự trung dũng và lập trường kiên định của mình tự nguyện dấn thân vì GPPGVNTN đang trong trạng huống nguy vong. Đặc biệt trong thời “ Ma vương quỉ dữ”, thời Pháp Nạn này, tôi lấy làm hãnh diện và vinh dự khi GHPGVNTN có quý Ôn Đại Lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang, Đức Đệ Tứ Tăng Thống, Hòa Thượng Thích Quảng Độ Viện Trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN, là những trụ cột vững chắc, là bậc trí nhân kim cương ra tay lèo lái con thuyền Giáo Hội chống đỡ ngôi nhà Chính Pháp trước cơn phong ba bão táp và cảnh nội suy ngoại chướng đang lâm le rình rập làm phá sản sự nghiệp của tiền nhân. Quý Ôn là những người công bằng, đức đô, không mang màu sắc cục bộ hay tư tưởng địa phương thấp hèn trong một góc xó xỉnh chật hẹp, không làm mất giá trị của “Thế Giới Đại Đạo” để “Phát Vô Thượng Tâm”… để cứu đời cứu đạo.

Kể từ năm 1975 đến nay đã hơn 30 năm, GHPGVNTN đã hoạt động trong chông gai, trong sự đàn áp khủng bố, sách nhiễu và bị chèn ép nặng nề, trải qua muôn vàn khó khăn thử thách. Quốc gia gặp Quốc Nạn, Đạo pháp gặp Pháp Nạn, số phận các thành viên trong giáo hội từ Trung ương xuống địa phương đều có thể bị bức hại bất cứ lúc nào. GHPGVNTN luôn đặt trong tình thế đối phó đương đầu với những hiểm trạng bởi các thế lực cuồng vọng vô minh, của những kẻ bạo quyền sẵn sàng đàn áp, chụp mũ, bách hại, bôi nhọ, phân tán, mua chuộc, xé lẻ và muốn tiêu diệt không chút nương tay. Dưới chế độ Cộng Sản, các tôn giáo khác gần như cùng chung số phận, phải đương đầu biết bao nghịch cảnh và gặp nhiều chướng ngại nghịch duyên trong mục vụ và hoằng truyền tôn giáo của mình. Hầu hết những thành viên trung thành với GHPGVNTN đều giữ vững lập trường và nằm lòng lời giáo huấn của nguyên Đệ Nhị Đức Tăng Thống Đại Lão Hòa Thượng Thích Giác Nhiên, nhân đại lễ Phật Đản lần thứ 2520 cách đây 25 năm. Trong Giáo Điệp Đức Tăng Thống đã khẳng định rõ lập trường của GHPGVNTN như sau:

“Đối với GHPGVNTN, Giáo Hội chúng ta là hậu thân thừa kế của các tổ chức GH tiền nhiệm đã có từ ngàn xưa. Pháp lý của Giáo Hội là lịch sử, địa vị của Giáo Hội là ở trong lòng người, đường lối của Giáo Hội là phục vụ Dân Tộc và Chúng Sanh. Do đó, dù ở đâu hay hoàn cảnh nào, Phật Giáo Việt Nam muôn đời vẫn là Phật Giáo Việt Nam, Phật Giáo Việt Nam muôn đời vẫn là của Dân Tộc VN”.

Thực ra GHPGVNTN từ trong quá khứ, hiện tại và tương lai đều luôn ở trong lòng mọi người, đã ở trong lòng mọi người thì không bao giờ mờ phai, không bao giờ mất, không bao giờ và không thế lực nào, không cá nhân nào có thể tiêu diệt được. Nếu đảng Cộng Sản Việt Nam có ý đồ xóa bỏ GHPGVNTN thì hãy bình tâm suy nghĩ lại và nên dẹp hẳn ý đồ đen tối xấu xa ấy đi. Hãy nhớ lại lịch sử, bài học thảm thương của quá khứ, tên hôn quân vô đạo Lê Ngọa Triều tức Lê Long Đỉnh, bạo ác, bạo tàn, kỳ thị Đạo Phật cho nên lịch sử và ngàn năm bia miệng vẫn còn phẫm bình là tên bạo chúa.

Đối với GHPGVNTN, từ trước tới nay không bao giờ tranh giành quyền bính của thế gian, Giáo Hội chỉ thừa kế sự nghiệp giác ngộ giải thoát của chư Phật và chư lịch Đại Tổ Sư. Trải qua bao thời Pháp Nạn, biết bao sự hy sinh to lớn của chư Thánh Tăng ni tử đạo, chư vị lãnh đạo tiền bối và các hàng cư sĩ Phật tử quá cố hữu công với Đạo Pháp. Đức Phật đã dạy “lấy từ bi làm căn bản, hỷ xả làm tôn chỉ, dũng khí làm phương châm”. Phật giáo luôn trung thành với Quốc gia Dân Tộc và đồng an, đồng nguy với đất nước. Bản thân tôi trong nhiều năm qua vừa đấu tranh cho Tự do, Dân chủ, Nhân quyền vừa Tự do Tôn giáo. Đặc biệt, đòi phục hoạt GHPGVNTN cho nên tôi vừa là tù nhân Chính Trị vừa là tù nhân Tôn Giáo. Tôi thiết nghĩ lòng yêu nước bất cứ người dân Việt nào cũng có và là bổn phận, là nghĩa vụ của toàn dân. Ý thức được trách nhiệm của mình đối với Tổ Quốc, cho nên mọi người dân đều có quyền suy nghĩ Chính Trị, nói Chính Trị và hành động Chính Trị tức tham gia vào đời sống Chính Trị của đất nước. Thật vậy,mỗi khi người dân biết sử dụng quyền công dân và cân nhắc lá phiếu của mình, để chọn người xứng đáng đại diện cho mình hay bầu người cầm vận mệnh Quốc gia thì dù muốn dù không cũng đã tham dự vào đời sống Chính Trị rồi! Cho dù là các nhà Tôn giáo, các bậc tu hành cũng là những công dân, cũng có lá phiếu cử tri, cũng cân nhắc lá phiếu, chọn người tài đức ra giúp dân giúp nước, và chịu trách nhiệm về vịêc chọn lựa của mình. Đặc biệt trên lĩnh vực tu hành, sự tham dự vào đời sống Chính Trị không có nghĩa là ra tranh chức tranh quyền, ứng cử dân biểu, hoặc lập đảng nầy, đảng nọ….

Nếu nói như Hoà thượng Thích Quảng Độ Viện Trưởng Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất “Thái Độ Chính Trị” là thuần lý nhất, tôi hoàn toàn tán thành ý kiến nói trên và xem như là một huấn thị của cấp lãnh đạo Giáo Hội TW cho các cấp trực thuộc tuân theo. Theo tôi thái độ Chính Trị có nghĩa là phải tìm hiểu đường lối, chủ trương, chính sách và hành động của những nhà Chính Trị để ủng hộ, hoặc để phê phán, để kiểm soát việc họ làm có như vậy mới xây dựng được một xã hội dân chủ, nếu không thì ta mãi mãi nuôi dưỡng một chế độ độc tài mà thôi! Điều mà tôi muốn nhấn mạnh thêm, là chống giặc ngoại xâm, hay đuổi sạch bóng quân thù ra khỏi bờ cõi, đất nước chưa hẳn hoàn toàn có độc lập, nhân dân chưa hẳn có tự do, nhà nhà chưa hẳn có hạnh phúc.Độc lập gì mà còn lệ thuộc chủ nghĩa ngoại lai, đuổi giặc nầy đi lại rước giặc khác vào còn ghê gớm hơn, theo kiểu “Đuổi hùm cửa trước, rước voi cửa sau” hệ thống tư tưởng còn độc ác hơn. Việt Nam hiện nay không ai áp đặt học thuyết ngoại lai nữa, mà do Bộ Chính Trị tự nguyện duy trì, tức là tự mang dây thòng lọng tròng vào cổ nhân dân VN thông qua điều 4 trong Hiến Pháp. Bộ Chính Trị của đảng Cộng Sản trung thành tuyệt đối với học thuyết ngoại lai, một học thuyết lỗi thời không phù hợp với truyền thống Dân Tộc Việt Nam, đã xúc phạm đến lòng tự tôn của Dân Tộc.

Nhân đoạn kết của trang hồi ký nầy tôi muốn nói lên vài lời để cảm ơn cô Quảng Bình phóng viên của chương trình “tiếng nói lương tâm Công Giáo”. Cô có dành cho tôi một cuộc phỏng vấn ngắn mang ý nghĩa đoàn kết, hài hòa, thân thiện. Chính tôi cũng không biết phải dùng từ ngữ gì đây cho chính xác để nói lời phụ nầy nếu nói phụ lục, phụ bản, hay phụ trương thì cũng không đúng, vì tôi không phải là nhà cầm bút chuyên nghiệp. Tôi chỉ muốn nói lên nhưng điều mắt thấy tai nghe như một chứng nhân của lịch sử nên còn nhiều kém khuyết, khi biểu tỏ ý tưởng của mình qua những trang hồi ký còn vụng về văn tự, nhiều chi tiết rườm rà, luộm thuộm, cách trình bày thiếu mạch lạc, văn viết còn nhiều chỗ khúc mắc, dài dòng, không gọn gàng, rành mạch, không gẫy gọn những câu cú .v.v…cũng như có một vài người thắc mắc tại sao tôi lại thường xuyên tiếp xúc với đài Quê Hương họ cho rằng đây là đài “Công Giáo” do cô Đoan Trang phụ trách qua những dòng hồi ký nầy tôi xin trình bày 3 điểm sau đây:

1. Có những nỗi kinh hoàng, khốc liệt mà con người phải cùng gánh chịu, lúc ấy không phân biệt riêng ai trong đó có cả con Chiên của Chúa, có cả người Chăn Chiên, hay con Phật,“Đức Thích Ca Mâu Ni”, có cả Sứ Giả Như Lai, bậc Tăng sĩ xuất gia trong sự nghiệp hoằng hoá độ sinh, và có cả tín đồ của các Tôn giáo khác phải cùng chung số phận nghiệt ngã. Chúng tôi có những nỗi đau chung, mà nơi ấy không còn chỗ đứng cho sự xung đột ý thức hệ, lòng hận thù Dân Tộc hay chia rẽ, mâu thuẫn sắc tộc, hoặc phân biệt màu da, chủng tộc, tôn giáo, tiếng nói, đảng phái ..v.v.. Nơi ấy có lẽ là nơi biệt giam lâu dài, hay cảnh lưu đày biệt xứ khổ sai trong nhà tù CS. Từ chỗ cùng chung cảnh ngộ bi đát nhất, mà con người cảm thông nhau, “Thân như thủ túc” thương yêu nhau hơn tình cốt nhục, bằng chứng qua nhiều năm dài tôi đã cùng ở chung với quý chức sắc các Tôn giáo trong chốn lao tù, chúng tôi thiết thân và san sẻ cho nhau từng bát cơm, manh áo, từng nỗi vui buồn, từ tinh thần đến vật chất trong những ngày bị xiềng xích gông cùm, cận kề cái chết. Thực tế cao đẹp này chắc hẳn bên ngoài xã hội rộng lớn chưa hề có được và cũng không có bút mực nào diễn tả hết những tình cảm thân thương quý trọng vượt hẳn câu “Đạo bảo đạo tự trọng”. Tôi ước gì ngoài xã hội rộng lớn các tôn giáo thiết thân, yêu thương nhau, đoàn kết nhau như một, giống như lời trăn trối sau cùng của Linh mục Nguyễn Luân tỉnh Phan Rang trước khi qua đời Linh Mục Luân bày tỏ với tôi khát vọng ấp ủ bấy lâu:

“Nếu được ra tù hai anh em mình cải cách mối quan hệ tôn giáo theo hướng mới chăng hạn như: trước nhà thờ, hay bên cạnh Thánh đường thờ Chúa, có ngôi Chùa thờ Phật, Tín Đồ Phật tử đi lễ nhà thờ cầu nguyện Chúa và ngược lại Con chiên của Chúa đến chùa lạy Phật ngày Rằm, bởi các đấng xuất thế luôn chủ trương yêu thương mà người đời thường hay cố chấp. Một khi tinh thần hòa hợp chung thì thể chất mới kết hợp được cho nên nếu các Tôn giáo Đại đoàn kết tạo thành một khối vững chắc đi đầu, thì các tổ chức xã hội sẽ noi gương … Tôn giáo và nhân quyền sẽ là sức mạnh chính làm chuyển hóa chế độ bạo quyền nầy”

2. Sự trốn chạy của hàng triệu người VN ra đi tìm tự do, tìm sự sống bất kể sinh mạng, phó thác số mệnh cho sóng to gió lớn của đại dương. Trên chiếc thuyền ấy có đủ màu sắc tôn giáo, tín ngưỡng, sắc tộc khác nhau .v.v…Nếu may mắn gặp cảnh sóng lặng gió êm, không gặp cướp biển, tàu máy không gặp sự cố, được bình an qua đến bến bờ kia đó là điều đại phúc, còn ngược lại tất cả mọi xác thân đều bình đẳng vùi chôn dưới sóng cả đại dương, hoặc rệu rã thây thi làm mồi cho cá biển, hay thân tứ đại trả về cho cát bụi, làm phân bón cho cây cỏ xinh tươi……

3. Thảm họa nạn sóng thần “Tsunami” vào ngày 26 tháng 12 năm 2004, các nước như Tích Lan, Ấn Độ, Indonesia, Mã Lai, Miến Điện, Thái Lan và Châu Phi phải gánh chịu những đau thương tang tóc, thảm hoạ nầy đã làm chấn động cả thế giới. Trong thảm họa kinh hoàng đó có đủ màu sắc tôn giáo như: Hồi Giáo, Phật Giáo, Bà La Môn Giáo,Thiên Chúa Giáo v.v Tất cả đều bình đẳng chịu chung cộng nghiệp, biết rằng con của Chúa, con của Phật hay Thánh A La nếu đủ phúc lành sẽ trở về cảnh giới an lạc, tận hưởng sự an vui ở thế giới khác, sau khi đã thoát khỏi kiếp người. Nhưng trong hiện hữu những nắm xương tàn cùng nằm chung trong lòng đất hay trong lòng của biển cả đại dương và gần đây cơn bão Catrina vừa qua bất thình lình đổ ập xuống nước Mỹ làm thiệt hại về người và của, một tổn phí khỗng lồ, một sức tàn phá khủng khiếp do tai trời ách nước gây nên, nhiều nơi trên thế giới xảy ra chiến tranh, thiên tai, Dịch họa, động đất, hạn hán, bão lụt v.v… lúc ấy mọi người có đủ màu sắc tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau …đều chịu chung thảm họa. Thời kỳ phân chia ý hệ cũng đã gieo cho nhân loại những nỗi thảm sầu, đau thương, tang tóc mà Dân Tộc Việt là nạn nhân khốn khó thương đau nhất với bao sinh linh vô tội. Chính trong những thương đau khốn khó đó, Dân Tộc Việt phải nhận chân được vấn đề, siêu vượt lên trên mọi ý hệ ngoại lai, đặt quyền lợi Dân Tộc là tối thượng, tất cả cho tương lai của đất nước. Tôi mượn mấy câu thơ để nói lên những thao thức trăn trở của mình:

Qua một phút kinh hoàng khốc liệt
Thì con người mới biết thương nhau …
Tự Do Cộng Sản là đâu ?
Quay về Dân Tộc đứng đầu là hơn !

Tôi cũng muốn gửi gấm những tâm tư hoài bão của tôi đối với các tôn giáo trong và ngoài nước “Dầu các tôn giáo không thể trở thành keo sơn gắn bó đi nữa thì chúng ta nhất quyết đừng bao giờ bị sa vào âm mưu cạm bẫy chia rẽ của loài quỷ dữ ma vương”. Đó là điều tôi trăn trở nhất hiện nay, bởi vì “Ngao cò tranh nhau ngư ông đắc lợi”. Các đoàn thể, tôn giáo nếu không biết đoàn kết thì khó tránh khỏi cảnh “Lưỡng bại câu thương”, tất cả sẽ bị Cộng Sản bách hại không còn cơ hôị nào để giải thể chế độ Cộng Sản mang lại tự do dân chủ thực sự, ấm no hạnh phúc thực sự cho hơn 80 triệu đồng bào Việt Nam chúng ta. Cuối cùng tôi xin đề cập trong 26 năm tù, tôi có nhận xét điều sai lầm nhất của CS khi quơ đũa cả nắm để đánh giá đối với tất cả các tổ chức Chính Trị đã bị bắt vào tù trong nhiều năm qua là “Theo Mỹ”. Chính vì đó mà nhiều bản án tử và lưu đày đã làm cho biết bao tù nhân Chính Trị phải bỏ mình nơi núi thẳm rừng sâu. Còn hiện tại các tôn giáo thuần túy không theo nhà nước CSVN, thì họ cũng quy kết rằng “Làm Chính Trị và theo Mỹ”. Mặc dù họ thừa biết rằng các tôn giáo ấy chỉ muốn phát triển mạnh để hoằng dương đạo pháp,“để tu hành chứ không làm Chính Trị”. Nhưng nhà cầm quyền CSVN lo sợ con đường cũ của họ sẽ được ai đó vận dụng tái lập như chính một thời họ đã từng đội lốt tôn giáo hoặc lợi dụng tôn giáo cho mưu đồ bất chính của mình. Chính vì thế, điều mà họ quan ngại nhất hiện nay là nếu để các tôn giáo tự do hoạt động được phục hồi lớn mạnh ngoài vòng kiểm soát của Đảng, nhất là trong thời điểm các phong trào đối lập đang ồ ạt gia tăng…và nếu một khi tôn giáo ủng hộ cho các đảng phái Chính Trị, thì đó sẽ là nguy cơ cho chế độ cầm quyền của họ. Tôi chỉ muốn nhận định sơ giản để kết thúc tập hồi ký nhỏ bé nầy, trang kết luận cũng là mở đầu cho một trang mới của cuộc hành trình mới. Tôi không muốn nhắc lại nhiều về cảnh lao tù của những đoạn kết, vì cần phải hướng đến tương lai sẽ hay hơn, tốt đẹp hơn so với những gì chỉ ôn lại cảnh đau buồn ám ảnh của thời quá khứ đã đi qua. Cuối cùng tôi nguyện cầu mười phương chư Phật khai thị Phật tính cố hữu của những tư tưởng bảo thủ trong Đảng CSVN sớm giải thoát khỏi phiền trược, dứt bỏ ác nghiệp cơ cầu, hồi tâm chuyển ý, quay về nẻo thiện để đưa Dân Tộc, Tổ Quốc VN ngày càng thăng hoa phát triển.

Tôi viết tập Hồi ký này chỉ nhằm để kỷ niệm cuộc đời mình, cho nên không tránh khỏi nhiều khiếm khuyết, ngưỡng mong các bậc cao minh chỉ giáo cho những điều sơ lậu.

Cẩn bút

THÍCH THIỆN MINH

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: