PHẠM TÂY SƠN

TỔ QUỐC VIỆT NAM – DANH DỰ – ĐỒNG BÀO TRÊN HẾT Thông tin để khai trí và phát triển.

-Từ Hồng Kông đến nỗi thống khổ của dân Đại lục: ‘Ngọc bích’ nên trở về nơi vốn có

Posted by phamtayson trên 11/12/2019


Ngọc, bởi hấp thụ tinh hoa của nhật nguyệt nên mới thành vật báu, và bởi kết tụ linh khí của đất trời nên mới thành vật thiêng. Những tinh hoa kế thừa trong văn hóa truyền thống giúp con người kính Thiên ái nhân, giữ gìn đạo đức… cho nên nơi nào giữ được văn hóa truyền thống cũng như quốc gia có ngọc quý vậy.

1/7/2019: 550.000 công dân Hồng Kông đã xuống đường trong một cuộc biểu tình hàng năm vào ngày Hương Cảng được trao trả về cho Trung Quốc, để kêu gọi chính phủ rút lại dự luật dẫn độ gây tranh cãi (ảnh: Hei Lau / Shutterstock).

Hồng Kông là một trong bốn con rồng châu Á cùng với Singapore, Đài Loan và Hàn Quốc. Người dân nơi đây giữ được văn hóa truyền thống vốn được họ xem như Thần truyền lại cho con người, đồng thời lại mang tư tưởng tiên tiến của phương Tây. Với ưu đãi thuế quan, tư tưởng tự do dân chủ cùng chất lượng nhân sự, nơi đây trở thành trung tâm tài chính của châu Á và thế giới. Các nhà phong thủy gọi nơi đây là “chậu chứa kho báu”, nên cũng không quá khi nói, Hồng Kông là viên ngọc quý của châu Á.

Từ năm 1997, chính quyền Trung Quốc đã chiếm lại được “viên ngọc” này. Việc bội ước và mong muốn chiếm ngọc thời xưa, thì đã có câu chuyện rất nổi tiếng “hoàn bích quy Triệu” (ngọc nguyên vẹn về nước Triệu). Theo đó Tần Chiêu Vương có ý muốn chiếm ngọc, bội ước, nhưng bất thành. Từ câu chuyện bên dưới, ta sẽ phân tích thử xem chính quyền Trung Quốc đã “bội ước” như thế nào.

Ngọc về nước Triệu

Ngọc bích họ Hòa [1] trở thành quốc bảo của nước Sở suốt 300 năm, sau đó bị thất lạc. Không rõ viên ngọc đã qua bao nhiêu đời chủ, rơi vào tay những ai. Chỉ biết rằng đến thời Huệ Văn Vương thì Hòa thị bích đã trở thành quốc bảo của nước Triệu.

Thời ấy Triệu quốc chỉ là một nước nhỏ, còn Tần quốc là nước lớn hùng mạnh. Nhưng vì Triệu vương có trong tay ngọc quý nên Tần vương mới nhún nhường, muốn thương lượng để đổi lấy ngọc về. Vua Tần là Tần Chiêu Vương đã viết thư gửi cho vua nước Triệu là Huệ Văn Vương rằng:

“Quả nhân từ lâu đã hâm mộ ngọc bích họ Hòa, tiếc là chưa được một lần chiêm ngưỡng. Nay nghe nói quân vương có ngọc ấy, quả nhân không dám xin không, muốn đem đổi 15 thành trì để tạ ơn, mong quân vương vui lòng suy xét”.

Vua Triệu nhận được thư thì vô cùng lo lắng. Vì Tần là nước mạnh, nếu nước Tần thất hứa thì cả ngọc cũng mất mà 15 thành cũng không có. Sau một hồi thương lượng với văn võ bá quan, ông quyết định cử Lạn Tương Như đi sứ.

Đến nước Tần, Lạn Tương Như dâng ngọc lên Tần Chiêu Vương. Vua Tần cả mừng bèn trao cho quan hầu và các mỹ nhân trong nội cung chuyền tay nhau xem, nhưng tuyệt nhiên không nhắc đến chuyện trao đổi thành trì.

Biết vua Tần có ý nuốt lời, Lạn Tương Như bèn tìm cách lấy lại ngọc quý. Ông nói: “Thưa đại vương, ngọc bích tuy quý nhưng lại có vết, thần xin được chỉ cho đại vương xem”.

Vua Tần vừa trao lại ngọc bích, Lạn Tương Như vội cầm lấy ngọc và lùi về phía sau tựa vào cột, dõng dạc nói: “Đại vương vì muốn được ngọc quý nên mới hứa cắt 15 thành trì cho nước Triệu. Thần trộm nghĩ, ngay cả kẻ áo vải còn không dám dối nhau, huống hồ nước lớn. Nhưng nay đại vương vừa nhận được ngọc đã không muốn trả thành ấp cho vua Triệu, cho nên thần mạo muội lấy ngọc về. Nếu đại vương cứ muốn bức bách thần, thì cả đầu thần và viên ngọc sẽ vỡ ở cái cột này!”.

Tần vương thấy Lạn Tương Như như vậy bèn ngăn lại, đồng thời sai người cầm địa đồ đến và chỉ vào 15 thành trì sẽ cắt cho nước Triệu. Lạn Tương Như vẫn không tin: “Khắp thiên hạ ai cũng biết ngọc bích họ Hòa là vật báu. Trước đây vua Triệu đã trai giới 5 ngày, lại yêu cầu khắp quần thần trong triều cùng vái lạy rồi mới cho thần mang ngọc đi. Ấy là vì trọng cái uy của nước lớn mà tỏ lòng tôn kính vậy. Nay xin đại vương cũng nên trai giới 5 ngày, sửa sang lễ đường, bày đặt nghi lễ tiếp rước, có vậy thần mới dám dâng ngọc”.

Vua Tần nhận lời, nhưng trong 5 ngày ông trai giới, Lạn Tương Như đã sai người hầu cận mặc áo vải thô, giả làm kẻ hành khất rồi bí mật mang ngọc bích về trả lại cho vua Triệu. Thời hạn 5 ngày đã qua, Tần vương lên điện sai bày đặt lễ nghi, đồng thời mời các sứ giả chư hầu đến để xem ngọc bích.

Lạn Tương Như ung dung bước vào điện đường, vừa chắp tay lạy vua Tần vừa nói: “Nước Tần từ thời Mục Công đến nay, tổng cộng hơn 20 đời vua, chưa từng thấy ai giữ trọn lời hứa. Kể xa thì Kỷ Tử lừa Trịnh, Mạnh Trinh lừa Tấn, kể gần thì Thương Ưởng lừa Ngụy, Trương Nghi lừa Sở… đều là bất tín bất nghĩa. Nay thần sợ bị lừa làm phụ lòng quân vương nước Triệu, nên đã sai kẻ hầu mang ngọc theo đường tắt trở về nước Triệu rồi. Vả lại, Tần mạnh mà Triệu yếu, đại vương chỉ cần cắt 15 thành trì cho Triệu thì Triệu đâu dám giữ ngọc để mắc tội với đại vương. Thần biết rằng lừa dối đại vương là tội đáng chết, vậy xin cứ việc bỏ thần vào vạc dầu, để chư hầu đều biết rằng vì muốn đoạt ngọc bích mà vua Tần giết sứ nước Triệu. Xin đại vương và quần thần bàn bạc kỹ cho”.

Vua Tần nghe nói vậy, trong lòng giận dữ, nhưng vì không muốn mang tiếng xấu nên đành tha cho Lạn Tương Như. Về sau, quả thật Tần không cắt 15 thành trì cho nước Triệu, và Triệu cũng không dâng ngọc bích cho Tần. Ngọc bích đã quy về nước Triệu theo cách như thế.

Câu nói: “Nước Tần từ thời Mục Công đến nay, tổng cộng hơn 20 đời vua, chưa từng thấy ai giữ trọn lời hứa” của Lạn Tương Như cũng có gì đó tương tự với điều đang diễn ra hiện nay, chỉ có điều thay nước Tần bằng… chính quyền Trung Quốc.

Tranh vẽ Lan Tương Như bảo vệ Hòa ngọc bích (ảnh: Tanmizhi).

Chính quyền Trung Quốc bội ước

Sau khi Hồng Kông được trao trả về với Đại lục không lâu, chính quyền Trung Quốc đã lộ rõ bộ mặt thật, lập tức phủ định “Tuyên bố chung Trung – Anh”, đồng thời nhấn mạnh “xóa bỏ thực dân hóa”. Mục đích là Bắc Kinh muốn xóa bỏ chế độ “một quốc gia, hai chế độ” hiện hành. Sau đó, chính quyền Trung Quốc lại thúc đẩy Điều luật 23 năm 2003 [2], sàng lọc ứng cử viên trước khi cho phép cuộc bầu cử Đặc khu trưởng dẫn đến Cuộc cách mạng ô dù năm 2014, đến nay lại là “luật dẫn độ”.

Câu chuyện năm xưa, nước Triệu giữ được ngọc, còn nước Tần không cắt 15 thành trì. Nhưng để giữ được “viên ngọc” Hồng Kông, thì cái giá phải trả có cả máu, nước mắt và cả sinh mệnh… Báo cáo do chính phủ Hồng Kông công bố cho thấy từ tháng 6 đến tháng 9 năm nay, chính phủ Hồng Kông đã nhận được tổng cộng 2.537 trường hợp tử vong được xác nhận, trong đó bao gồm tử vong trước và sau khi đến bệnh viện. Từ tháng 9 đến tháng 11, số vụ tự sát tăng lên 256 trường hợp. Tính đến ngày 19/11, cảnh sát đã bắt giữ tổng cộng 5.804 người trong độ tuổi từ 11 đến 83. Con số thương vong sẽ còn tăng thêm.

Biểu tình trước trụ sở chính quyền Hồng Kông đòi hỏi cải cách chính trị, ngày 22/08/2019 (ảnh: Kai Pfaffenbach/Reuters).

Đó là vấn đề Hồng Kông. Nhìn lại lịch sử, ta thấy chính quyền Trung Quốc cũng có không ít lần bội ước.

Từ mùa đông năm 1946 đến mùa xuân năm 1953, chính quyền Trung Quốc thực hiện cải cách ruộng đất ở khắp Trung Quốc Đại lục. Mục tiêu của cuộc cải cách là “để thích ứng với yêu cầu của quảng đại quần chúng nông dân, tiêu diệt chế độ sở hữu ruộng đất phong kiến, thực hiện người cày có ruộng”.

Kết quả thì sao? Sau khi hệ thống chính quyền cơ sở xây dựng kiên cố, người nông dân chia ruộng đất xong chưa kịp vui được mấy ngày lại bị chính quyền Trung Quốc cho “công xã hóa” tịch thu hết. Thêm vào đó đã làm cho “hộ hộ đấu tố, thôn thôn máu đổ”, tàn bạo khủng bố khắp mọi nơi. Cuộc sống mọi người ở các vùng nông thôn đang bình yên, mọi người đã sống cùng nhau yên ổn trải qua nhiều thế hệ, nhưng tới lúc đó mọi thứ đã rối tung hết cả.

Cảnh đấu tố địa chủ trong “Cải cách ruộng đất” ở Trung Quốc (ảnh: Mạng Tân Hoa).

Chính quyền Trung Quốc đã lợi dụng công nhân để tiến hành các cuộc vận động. Đây cũng là lực lượng hậu thuẫn kiên cường cho phong trào “phản cánh hữu”. Tới thời Cách mạng Văn hóa, “đội công nhân tuyên truyền”, “đội công nhân duy trì trật tự” được sử dụng để thu dọn cục diện rối rắm, trấn áp cuộc đấu tranh của của sinh viên, học sinh, công nhân, thị dân, trí thức… Nhưng số phận của giai cấp công nhân cũng không khá khẩm hơn.

Sau khi chính quyền thành lập, họ cần công nhân làm công cụ đấu tranh, nhưng sau cải cách mở cửa năm 1978, thì quan chức, lãnh đạo cốt cán mới là người hưởng lợi. Theo The Epochtimes đưa tin vào ngày 21/10/2006, người giàu ở Trung Quốc phần lớn là con cái của quan chức cấp cao, trong đó có hơn 2.900 con cái quan chức có tổng tài sản đến 2.000 tỷ nhân dân tệ. Còn những người công nhân năm đó hiến dâng cả tuổi thanh xuân bị lãng quên không chút thương xót, còn được tặng cho một cái tên rất hay là “rời vọng gác” (nghĩa là thất nghiệp).

Quân đội cũng là một lực lượng huyết mạch của chính quyền Trung Quốc, chính quyền chỉ đâu thì đánh đó. Nhưng sau khi sử dụng xong, chính quyền Trung Quốc tùy ý ném họ trở lại xã hội, về cơ bản không còn chút đãi ngộ phúc lợi về sau. Trong cuộc chiến tranh biên giới với Việt Nam năm 1979, những người năm đó được phong làm “anh hùng can đảm”, “công thần số một” cũng chỉ được nhận trợ cấp duy nhất một lần khi mất với khoản tiền từ 800 đến 1.000 tệ (khoảng 3 triệu 300 nghìn đồng) tùy theo cấp bậc, cuộc sống của gia đình họ không ai quan tâm.

Từ nước Triệu đến họ Triệu và dự ngôn cách đây 1000 năm về Trung Quốc hiện đại

Từ “hoàn bích quy Triệu” đến “nguyên bích ứng nạn Triệu thị thu”.

Ngoài câu chuyện “hoàn bích quy Triệu” từ thời Xuân Thu cách đây khoảng 2.300 năm, trong kỳ 9 của dự ngôn Mai hoa thi của Thiệu Ung (1011 – 1071) triều Tống cách đây gần 1000 năm cũng có nhắc đến “ngọc bích” và “Triệu”. Nhưng lần này không phải là nước Triệu mà là họ Triệu. Bài thơ là một dự ngôn với, hai câu thơ đầu nói về sự kiện và nhân vật năm 1989, hai câu thơ sau nói về sự kiện năm phát sinh năm 1992 sau đó gặp trở nạn vào năm 1999.

Mai hoa thi, kỳ 9:

Hỏa long chiết khởi Yến Môn thu
Nguyên bích ứng nạn Triệu thị thu.
Nhất viện kỳ hoa xuân hữu chủ
Liên tiêu phong vũ bất tu sầu.

Diễn nghĩa:

Rồng lửa khởi ra từ đau buồn cửa Yến Môn
Ngọc bích nguyên sơ chịu nạn, họ Triệu thu về.
Một vườn hoa đẹp kỳ diệu, mùa xuân có chủ
Gió mưa suốt đêm, không phải lo sầu.

Trong chương trình “Tế ngữ nhân sinh” phát trên đài truyền hình Tân Đường Nhân vào đầu năm 2011, người dẫn chương trình cùng vị khách mời là ông Tống Thần Quang – có nghiên cứu và kiến giải rất độc đáo về khoa học nhân thể, Trung Y và Kinh Dịch – đã giải bốn câu thơ này như sau.

Hai câu thơ đầu người dẫn chương trình đã xem qua giải thích, cô nói là ngày 4/6/1989, học sinh và dân chúng Trung Quốc thỉnh nguyện trên quảng trường Thiên An Môn (cửa Yến Môn) bị thảm sát tàn khốc, Triệu Tử Dương (khi đó làm Tổng Bí thư, ông phản đối trấn áp) vì sự kiện Lục Tứ mà bị giam lỏng.

Giải thích câu thơ thứ ba “nhất viện kỳ hoa xuân hữu chủ”, ông Tống nói đại ý như sau. Vào cuối xuân tháng 5/1992,  Pháp Luân Công được truyền ra toàn xã hội, từ đó khiến Đại lục nơi nơi đều nhìn thấy hoa đẹp khai nở. Chính là tại điểm luyện công có thể nhìn thấy học viên treo đồ hình Pháp Luân và đeo huy hiệu đồ hình trước ngực. Và đồ hình Pháp Luân này, rất giống một đóa hoa diệu kỳ.

Đồ hình Pháp Luân (ảnh: Đại Kỷ Nguyên).

Còn với câu thơ tiếp theo “liên tiêu phong vũ bất tu sầu”, ông đã giải thích, từ năm 1999, Tổng Bí thư khi ấy là Giang Trạch Dân vì lòng đố kỵ đã phát động cuộc đàn áp Pháp Luân Công. Mặc dù cuộc bức hại tàn khốc tựa như cuồng phong bão táp vẫn đã duy trì một thời gian dài, nhưng những người tu luyện Pháp Luân Công đã biểu hiện thiện lương, hòa bình và kiên định, rồi cuối cùng nhất định sẽ thắng lợi. Đây là điểm không cần phải ưu sầu.

Bốn câu thơ đã nói rõ về 2 sự kiện xảy ra năm 1989 và 1999.

Trong sự kiện thảm sát Thiên An Môn, quân đội nã súng vào những người biểu tình tay không tấc sắt, nghiền nát họ bằng xe tăng, thu gom xác bằng xe ủi và phóng hỏa phi tang. Hơn 10.000 người đã thiệt mạng trong đêm đẫm máu đó, theo ước tính của Khối Xô viết và tình báo Anh, Mỹ.

Đúng 10 năm sau sự kiện Thiên An Môn, một cuộc thảm sát mới đã bắt đầu và tiếp diễn đến ngày nay. Nạn nhân có thể bị tra tấn đến chết hoặc bị giết để lấy nội tạng, chỉ vì họ tập luyện môn khí công theo nguyên lý Chân – Thiện – Nhẫn được ưa chuộng tại nhiều quốc gia.

“Ngọc bích” nên trở về nơi vốn có

Một Trung Quốc đang càn quét khắp châu Phi, thao túng thị trường châu Úc, thâm nhập vào châu Âu, và khống chế các công ty châu Mỹ. Đó cũng là một quốc gia ngang ngược trên Biển Đông, gây hấn trên lãnh hải Nhật Bản, lấn chiếm bờ cõi Ấn Độ, nhăm nhe biên giới Nga, và chèn ép lãnh thổ Bắc Hàn… Một chính quyền bạo ngược vô đạo, liệu Trời đất có dung tha? Cho nên khẩu hiệu Trời diệt Trung Cộng của người biểu tình Hồng Kông có lẽ cũng thể hiện Thiên ý.

Trung Quốc vốn là quốc gia lễ nghĩa (lễ nghi chi bang), và có nền văn hóa bao dung. Thời Đại Đường thịnh thế, cả Nho – Thích – Đạo đều phát triển, thậm chí còn có cả tôn giáo Tây phương. Với gốc rễ như vậy, con người khi đó giữ được đạo đức và chuẩn tắc làm người, biết phân biệt đúng – sai, thiện – ác. Những điều đó tựa như viên ngọc quý vậy. Và ngọc quý thì nên trở về với vị trí của nó, giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp.

“Hoàn bích quy Triệu”, chữ Hoàn (完) trong Thuyết văn giải tự của Hứa Thận có nghĩa là đầy đủ vẹn toàn. Nếu Trung Quốc khôi phục vẹn toàn tinh hoa của văn hóa Thần truyền vốn kính Thiên ái nhân, có lẽ cả người dân Đại lục và thế giới sẽ được an ổn hơn. Ít nhất người Trung Quốc đỡ khổ vì thuốc giả, thực phẩm bẩn, môi trường ô nhiễm nghiêm trọng… còn quốc tế sẽ yên bình hơn vì không có người hàng xóm hung hăng nổi loạn.

Ghi chú:

[1]: Hòa Thị Bích là một viên đá ngọc bích được tìm thấy vào thời Xuân Thu Chiến Quốc bởi một người tên là Biện Hòa. Ông phát hiện đó là ngọc quý và đưa nó cho Sở Lệ Vương. Sở Lệ Vương sai thợ ngọc xem, người thợ này cho là đá không phải là ngọc. Sở Lệ Vương liền cho người họ Hòa này là nói dối, rồi sai người chặt chân trái anh ta. Đến khi Vũ Vương nối ngôi, người họ Hòa này lại đem ngọc đến dâng, nhưng thật không may khi chân ông lại bị chặt tiếp vì lý do tương tự.

Đến khi Sở Văn Vương lên ngôi, Biện Hòa tuổi đã cao lại mang ngọc đến kêu khóc, Văn Vương mới sai người đem đá bổ ra, quả nhiên đó là ngọc thật. Vua đã đặt tên cho miếng ngọc là Hòa Thị Bích (Ngọc bích họ Hòa) và từ đó viên ngọc này được coi là quốc bảo của nước Sở.

[2]: Điều 23 là một điều khoản Hiến pháp chỉ dẫn rất nhiều điều về các tội danh ở Hồng Kông như: tội phản quốc, hành vi chia rẽ quốc gia, tội kích động lật đổ chính quyền, ăn cắp bí mật nhà nước. Vì điều luật này gây lo ngại về vi phạm các quyền và sự tự do, dẫn đến nửa triệu người tham gia vào cuộc tuần hành năm 2003 để phản đối chính quyền của Đổng Kiến Hoa – Trưởng đặc khu Hồng Kông lúc bấy giờ.

Ngành công nghiệp hắc ám của Trung Quốc bị phơi bày trên sóng BBC

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: