PHẠM TÂY SƠN

TỔ QUỐC VIỆT NAM – DANH DỰ – ĐỒNG BÀO TRÊN HẾT Thông tin để khai trí và phát triển.

-Bốn linh mục quốc doanh ở Sài Gòn

Posted by phamtayson trên 18/10/2017


Boxitvn -18-10-2017

Văn Hoàng

Có ai biết bốn vị linh mục này thuộc biên chế của cơ quan, đơn vị nào và mang cấp bậc hàm gì?

Bauxite Việt Nam

Sau năm 1975, trong hàng ngũ linh mục, tu sĩ Công giáo ở miền Nam xuất hiện một số người tham gia cộng tác hết mình với chính quyền cộng sản. Trong số này, nổi bật nhất có 4 linh mục mà giáo dân gán cho biệt danh không được thiện cảm lắm: “Tứ nhân bang” (bè lũ 4 tên). Đó là các linh mục Huỳnh Công Minh, Trương Bá Cần, Phan Khắc Từ, Vương Đình Bích. Cả bốn ông đều tích cực, hồ hởi đi theo đường lối của Đảng Cộng sản. Họ điều khiển tờ tuần báo “Công giáo và Dân tộc” hoàn toàn với giọng điệu của cán bộ cộng sản, và lèo lái tổ chức có danh xưng Uỷ ban Đoàn kết Công giáo yêu nước, bộ phận của Mặt trận Tổ quốc, cơ sở ngoại vi của Đảng Cộng sản.

Đầu tiên xin nói về linh mục Huỳnh Công Minh.

Năm 1976, linh mục Minh được đưa ra làm Đại biểu Quốc hội, coi như một đại diện của giới Công giáo. Tại diễn đàn Quốc hội năm 1976 đó, ông dõng dạc tuyên bố: “Con người mới, xã hội mới mà mọi người đều mơ ước, mà mọi người tin vào Chúa Ki-tô mãi mơ ước, con người mới đó, xã hội mới đó không thể có được, không bao giờ có được nếu không có Đảng Lao động Việt nam, đội tiền phong của giai cấp công nhân, lãnh đạo và tổ chức… Phần tôi, tôi nguyện suốt đời phục vụ cho Đảng” (trích bản tin ngày 7-7-1976 của Thông tấn xã Việt Nam).

33 năm sau, trong buổi tọa đàm vào ngày 20 và 21-3-2009 với chủ đề “Đặc điểm tư duy và lối sống của người Việt trước yêu cầu hội nhập quốc tế” tại Câu lạc bộ Nguyễn Văn Bình (cư xá Phục Hưng cũ), khi được cử tọa hỏi về lời tuyên bố này, linh mục Minh đã phải giải thích quanh co, cốt ý làm giảm nhẹ cái lập trường “kiên định tin tưởng vào Đảng Cộng sản” như thế. Cuối cùng ông kết luận bằng một câu xanh rờn: “Nếu như hôm nay, tôi không nói vậy”.

Linh mục Minh hiện vẫn giữ chức Tổng đại diện Giáo phận Sài Gòn, kèm sát với hồng y Phạm Minh Mẫn. Ông còn có một biệt danh khác nữa là “linh mục chính ủy”. Điều này ngụ ý ông Minh được Đảng Cộng sản cài vào vị trí lãnh đạo chính trị tại Tòa Giám mục Sài Gòn từ rất lâu, ngay dưới thời của Tổng giám mục Nguyễn Văn Bình.

Để cho được công bằng, thiết nghĩ cũng cần ghi thêm là mới đây, trên đài BBC, linh mục Minh đã lần đầu tiên công khai phê phán sự sai trái của nhà nước cộng sản trong vụ đàn áp giáo dân và tu sĩ ở Tam Toà – Đồng Hới vào hồi tháng 7-2009. Gió đã bắt đầu đổi chiều rồi chăng?

Tiếp theo, chúng tôi sẽ lần lượt cung cấp thông tin về ba linh mục quốc doanh còn lại: Trương Bá Cần (vừa mất tháng 7-2009 tại Sài Gòn), Phan Khắc Từ (có vợ là cán bộ mà vẫn ngang nhiên làm cha sở họ đạo Vườn Xoài), Vương Đình Bích (người tố cáo sự lũng đoạn của Phan Khắc Từ vào năm 1999).

Linh mục Trương Bá Cần (1930-2009) là chủ biên tuần báo “Công giáo và Dân tộc”, loại báo quốc doanh dành cho tín đồ Công giáo, cũng giống tờ “Giác ngộ” dành cho tín đồ Phật giáo vậy. Ông qua đời vừa mới đây ở Sài Gòn nên người viết phải tự chế, không muốn đi sâu vào cuộc đời riêng tư của ông và xin cầu cho ông được an nghỉ nơi cõi vĩnh hằng.

Tuy nhiên, vì ông là một nhân vật công cộng (public figure) nên công chúng được quyền biết đến và phê phán các hành động công khai của ông. Như chính ông viết trong cuốn hồi kí “50 năm nhìn lại – 1958-2008” (tức là viết về đời linh mục của ông) xuất bản năm 2008 tại Sài Gòn, tên ông là Trần Bá Cường, có người anh là Trần Bá Đường. Ông tu học từ nhỏ tại chủng viện của giáo phận Vinh và từ 1953 được giáo hội gửi đi du học tại Pháp. Từ khi ở Pháp về nước năm 1963, ông lấy tên là Trương Bá Cần. Ông có tác phẩm “Nguyễn Trường Tộ: Con người và di thảo” xuất bản năm 1988 tại Sài Gòn, được nhiều người đánh giá là một công trình sưu khảo có giá trị khoa học, xứng đáng với một nhà sử học được đào tạo vững vàng tại Trường ĐH Sorbonne hàng đầu của nước Pháp. Nhưng ông bị đa số người Công giáo chê bai về vai trò xúi giục một số người trẻ Công giáo tụ tập đến Tòa Khâm sứ Tòa Thánh tại đường Hai Bà Trưng – Sài Gòn để dùng cả bạo hành làm áp lực, bắt buộc Khâm sứ Henri Lemaitre phải rời bỏ Việt Nam. Trong dịp này, có người còn kéo tay Khâm sứ, giật áo và hô to: “Va t’en!” (Cút đi). Chính linh mục Chân Tín đã phải lắc đầu khi mô tả lại sự kiện này với một người bạn, ngay sau khi vụ quá khích này xảy ra. Ông còn nói: “Tôi không thể chấp nhận lối nói của cha Cần khi ông ta phát biểu một cách hàm hồ quá khích như: Bộ mặt nhơ nhuốc của Giáo hội Công giáo”.

Cũng liên hệ tới vụ này, còn có một chuyện thật bi thảm khác nữa. Đó là vụ một đoàn giáo dân từ giáo xứ Bùi Phát – quận 3, khi hay tin Khâm sứ bị hành hung, đã kéo nhau đến để tìm cách “cứu nguy”, “giải vây” nhưng đoàn bị chặn lại tại đầu cầu Trương Minh Giảng và rồi vì có sự xô xát làm sao đó mà rút cục có một người bị bộ đội bắn chết. Sau đó, một vị linh mục tên là Định ở giáo xứ Bùi Phát bị bắt đi tù một thời gian.

Còn về sự điều hành của tờ “Công giáo và Dân tộc” thì ông Nguyễn Văn Chín là một trong những cộng tác viên đầu tiên đã phải thốt ra: “Tôi không thể chấp nhận cái lề lối “giáo sĩ trị” do linh mục Cần thực hiện nơi tòa soạn của tờ báo, do đó mà tôi phải rút ra khỏi tòa báo sau một năm cộng tác và sinh hoạt tại đó”. Về mặt nội dung của tờ báo thì sự đánh giá tổng quát có phần phức tạp hơn, thiết tưởng nên dành vào một dịp khác thì mới có thể phân tích chi tiết, thỏa đáng được. Nói chung thì cái mục nhận định kí tên “Người Tín Hữu” do chính linh mục Cần phụ trách đã gây phản ứng bất bình nơi nhiều giáo dân, mà ông lại cho họ là thành phần còn đầu óc bảo thủ, chưa được tiến bộ, chưa có sự “giác ngộ cách mạng”.

Ông Cần là người có trình độ lí luận sắc bén nhất trong số linh mục quốc doanh và cũng gây khó khăn, phiền muộn nhất cho Giáo hội Công giáo Việt Nam sau năm 1975. Cụ thể là trong việc giáo dân ở Hà Nội nổi lên tranh đấu ở vụ cơ sở Tòa Khâm sứ và giáo xứ Thái Hà năm 2008, linh mục Cần dù đã già yếu mà vẫn có giọng điệu ngang bướng, đi ngược lập trường của đại đa số giáo dân trong Nam, ngoài Bắc. Và gần đây, với vụ đàn áp tàn bạo đối với giáo dân và linh mục tại Tam Tòa – Đồng Hới thuộc giáo phận Vinh vốn là quê hương bản quán của ông, có người tò mò hỏi là: “Nếu ông Cần vẫn còn sống, không biết ông ấy có còn tiếp tục đứng về phía nhà nước cộng sản để chống lại chính đồng hương và đồng đạo của ông nữa chăng?”.

Điều lí thú hơn cả là quan điểm đối lập gay gắt giữa linh mục Trương Bá Cần với cựu linh mục Nguyễn Ngọc Lan là hai người bạn học một thời với nhau tại Trường ĐH Sorbonne bên Pháp hồi thập niên 50-60. Sau năm 1975, hai ông bạn này càng ngày càng khác biệt về lập trường đối với chế độ cộng sản, ông Cần vẫn một mực hợp tác, thỏa hiệp với nhà nước cộng sản còn ông Lan thì luôn sát cánh với linh mục Chân Tín trong việc công khai phê phán, đối lập với chính sách của Hà Nội đối với các tôn giáo, đặc biệt là đối với giới Công giáo như trong vụ phong Thánh tử đạo vào năm 1988. Ông Lan đã viết nhiều bài phê phán nặng nề đối với ông Cần nhưng ông Cần một mực né tránh, không bao giờ công khai đối đáp lại ông Lan.

Trong cuốn hồi kí xuất bản năm 2008, được coi là tác phẩm cuối đời của ông, linh mục Cần vẫn bảo lưu lập trường đi theo với cộng sản mà ông gọi là tiến bộ của mình. Vì thế, người ta không lấy làm lạ là trong dịp tang lễ của ông vào giữa tháng 7-2009, giới lãnh đạo cộng sản đã hết lòng ca tụng công lao của ông đối với sự nghiệp cách mạng do Đảng Cộng sản chủ trương dẫn đầu. Và các báo chí với cơ quan truyền thông của nhà nước cộng sản đã không tiếc lời đề cao vai trò quan trọng của ông đối với dân tộc và đất nước Việt nam. Họ còn nhắc lại việc ông cha Cần bênh vực mấy sinh viên tranh đấu chế tạo bom xăng dùng để đốt xe của cảnh sát tại cơ sở Thanh Cần do ông quản lí vào hồi trước 1975 nữa.

Linh mục Phan Khắc Từ thật là người năng động, xông xáo và rất tháo vát. Từ trước năm 1975, ông đã nổi tiếng là một linh mục mà đi làm công nhân Sở Vệ sinh thành phố Sài Gòn, nên mới có biệt danh “ông linh mục hốt rác Phan Khắc Từ”. Năm 1969, dịp ông Hồ Chí Minh mất ở ngoài Hà Nội, linh mục Từ tổ chức lễ truy điệu “trong vòng thân mật” tại Sài Gòn.

Sau năm 1975, sự nghiệp chính trị của ông lên cao như diều gặp gió. Ông điều hành Ủy ban Đoàn kết Công giáo nằm trong hệ thống của Mặt trận Tổ quốc, tức là cơ sở ngoại vi của Đảng Cộng sản, rồi được cất nhắc lên làm Đại biểu Quốc hội một thời gian dài. Đặc biệt, ông còn được giáo quyền bổ nhiệm Chánh xứ Vườn Xoài, thay thế linh mục Trần Viết Thọ là người trước đã bảo trợ ông hồi ông còn là một chủng sinh đi tập sự tại giáo xứ đó. Giữ chức chánh xứ một thời gian, ông được nhà nước, đặc biệt là ông Mai Chí Thọ là một lãnh đạo cao cấp ở Sài Gòn nâng đỡ, ưu đãi trong việc xây cất thánh đường của giáo xứ mà suốt bao nhiêu năm linh mục Thọ, người đàn anh và là tiền nhiệm của ông đã không làm sao hoàn thành được. Vì thế, uy tín của ông đối với giáo dân đã lên rất cao.

Giữa lúc sự nghiệp chính trị và tôn giáo của ông đang rạng rỡ, sáng chói như vậy thì đùng một cái, chuyện linh mục mà lại có vợ có con của ông lại vỡ lở ra, khiến giáo dân thật là bối rối, thất vọng, chán chường. Sự việc như sau: vào năm 1986-87, bà vợ của ông đã tổ chức lễ thôi nôi được kể là tươm tất cho đứa con trai của ông bà, trong dịp đó một số cán bộ, đồng chí thân thiết được mời tham dự. Sau đó thì mấy người này tiết lộ ra cho nhiều bạn hữu khác, và cứ thế cái tin “linh mục Từ có vợ có con” đã loan truyền cùng khắp Sài Gòn, đến nỗi chính các linh mục Chân Tín, Nguyễn Viết Khai và cả giáo sư Nguyễn Ngọc Lan cũng đích thân được mấy cán bộ có tham dự lễ thôi nôi đó xác nhận là linh mục Từ đã có vợ con công khai đàng hoàng.

Chi tiết về gia cảnh của ông được tiết lộ như sau: bà vợ của ông trước kia là một sinh viên tranh đấu, gốc ở tỉnh Bến Tre, tên là Ngô Thị Thanh Thủy. Bà Thủy là một đảng viên với bí danh Tư Liên, đã có thời làm Bí thư Quận đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh tại quận Bình Thạnh. Sau này bà Thủy về làm Cửa hàng trưởng nhà hàng nổi tại bến Tân Cảng, gần khu cầu Bình Lợi. Cho đến nay (năm 2009), linh mục Từ vẫn tiếp tục làm Chánh xứ Họ đạo Vườn Xoài, mặc dầu đã có vợ có con đến gần 30 năm rồi.

Sự việc này khiến mọi giáo dân khó chịu, bất bình. Có dư luận cho rằng ông Từ đã có ý định xin cởi áo, từ bỏ chức vụ linh mục, như trường hợp các cựu linh mục Nguyễn Ngọc Lan, Nguyễn Nghị sau 1975 đã chính thức xin với giáo quyền cho họ được công khai rời bỏ chức vụ linh mục và hoàn tục, trở về cương vị của một giáo dân bình thường. Nhưng ông Từ không được các giới chức lãnh đạo của Đảng Cộng sản chấp thuận, do đó ông vẫn phải đóng cả hai vai trò vừa làm linh mục, vừa làm chồng, làm cha. Điều này khiến ông cứ phải đóng kịch với lối sống giả dối hai mặt, lừa dối đối với toàn thể cộng đồng giáo dân. Sự việc trớ trêu này đã được chính một cán bộ, đảng viên ở Sài Gòn phê phán như sau: “Lãnh đạo đảng mà cứ duy trì cái tình trạng “hai mặt” như thế này thì về lâu về dài sẽ tai hại vô cùng, khiến làm mất hết uy tín của đảng đối với quần chúng giáo dân. Bên Tin lành hay bên Chính thống giáo, mục sư hay linh mục mà có vợ con là chuyện bình thường. Nhưng bên Công giáo, cho đến nay người ta vẫn chưa chấp nhận cho linh mục lại có vợ, có con. Nay đảng để cho cứ kéo dài tình trạng này thì đảng đã “xử ép, chơi cha” đối với cả khối công giáo vậy đó. Thật là lợi bất cập hại”.

Ông linh mục hốt rác đang để lại cho Giáo hội Công giáo cũng như cho Đảng Cộng sản của ông một “đống rác đầy đồ phế thải, cặn bã” không biết bao giờ mới dọn sạch sẽ đi được?

Trên đây là chuyện thật trăm phần trăm. Quý bạn đọc có thấy là nó có thể được xếp vào loại chuyện cười ra nước mắt được chăng?

Linh mục Vương Đình Bích từng tu học bên Âu châu, thuộc tu hội dòng Đức Mẹ người nghèo. Trước năm 1975, có thời ông lái xe xích-lô máy để làm kế sinh nhai và sống trong một khu lao động tại miệt Cầu Kinh – Thanh Đa. Sau năm 1975, Ông sát cánh với linh mục Trương Bá Cần trong việc quản lí tờ báo “Công giáo và Dân tộc” và là một thành viên cốt cán của Uỷ ban Đoàn kết Công giáo yêu nước.

Trong một văn thư gửi đến nhiều nơi vào năm 1998-99, ông Bích xác nhận rành rọt như sau: “Đảng Cộng sản đã gây dựng 4 người chúng tôi làm đầu não mọi hoạt động của đảng trong giới Công giáo” (tức là 4 ông Minh, Cần, Từ, Bích mà giáo dân mỉa mai gọi là “Tứ nhân bang” theo lối nói ở Trung cộng để chỉ bè lũ Giang Thanh – Vương Hồng Văn… sau khi Mao Trạch Đông từ trần). Cũng trong văn bản này, linh mục Bích hạch hỏi, tố giác linh mục Phan Khắc Từ về những lem nhem tiền bạc, chuyện vợ con. Ông còn ghi rõ số tiền do bên nước ngoài tài trợ lên đến 150 ngàn Mỹ kim và nhiều khoản vay nợ khác cho cơ sở “Công giáo và Dân tộc” đã do ông Từ quản lí, chi tiêu rất tuỳ tiện, không minh bạch, rõ ràng với sổ sách ở đâu cả. Vụ tố giác này đã gây chấn động trong hàng ngũ mấy ông linh mục quốc doanh, phơi bày trước công chúng sự bất hoà, mâu thuẫn nội bộ của Uỷ ban Đoàn kết Công giáo yêu nước, vốn là một tổ chức ngoại vi của Đảng Cộng sản nhằm khống chế khối giáo dân, đặc biệt ở Sài Gòn.

Kết cục, hình như ông Bích có vẻ “yếu thế” hơn ông Từ nên sau này không thấy tên tuổi của ông còn được nhắc đến như là một uỷ viên của Mặt trận Tổ quốc cấp TP Sài Gòn hay cấp trung ương nữa. Thay vào đó, người ta chỉ thấy tên của các linh mục Thiện Cẩm, Nguyễn Tấn Khoá, Trương Bá Cần và cả Phan Khắc Từ… trong danh sách Đoàn chủ tịch Mặt trận Tổ quốc cũng như Uỷ ban Đoàn kết Công giáo.

Về danh xưng của Uỷ ban Đoàn kết Công giáo, lúc đầu thì được ghi đầy đủ là Uỷ ban Đoàn kết Công giáo yêu nước, sau này mới bỏ chữ “yêu nước” đi, nên có người như giáo sư Nguyễn Ngọc Lan mới nhại là Uỷ ban Đoàn kết Công giáo “không yêu nước” nữa. Bây giờ giáo dân lại còn mỉa mai gọi đó là một “Đàn Két” vì chỉ có việc lặp đi lặp lại cái giọng điệu tuyên truyền một chiều của Đảng Cộng sản mà thôi.

Thông tin trên internet có cho biết là vào cuối năm 2008, linh mục Vương Đình Bích có cho ra một cuốn sách nhan đề “Đức Giê-su trước khi có Ki-tô giáo” nhưng người viết chưa được đọc nên chưa biết nội dung ra sao. Có vẻ như ông đã trở về với lối sống tu hành nhiều hơn là bươn chải, bon chen với chuyện chính trị sôi nổi như vào thời kì sau năm 1975.

Nói vắn tắt lại thì người cộng sản luôn dùng thủ đoạn “củi đậu nấu đậu”, tức lôi cuốn, dụ dỗ các tín đồ, tu sĩ các tôn giáo hợp tác với đảng trong việc khống chế tôn giáo của mình. Loại người này luôn bị quần chúng nghi kị, khinh bỉ và gọi là “Phật giáo quốc doanh”, “Công giáo quốc doanh”… Loạt bài này chỉ nói riêng về “Tứ nhân bang” điển hình trong số linh mục quốc doanh đã và đang gây khó khăn, xáo trộn trong hàng ngũ Công giáo ở Sài Gòn mà thôi. Trong số hàng chục ngàn linh mục, tu sĩ trên toàn quốc của Giáo hội Công giáo Việt Nam hiện nay, có không tới 100 người được coi là “tu sĩ quốc doanh” chính hiệu như 4 vị trên. Như vậy, có thể nói tuyệt đại bộ phận giáo dân và tu sĩ đã không thoả hiệp, hợp tác với Đảng Cộng sản mặc dầu luôn bị sức ép của nhóm quốc doanh này. Nhân tiện cũng nên nhắc lại là Hà Nội đã cử nhiều viên chức ngành công an tôn giáo đi học tập kinh nghiệm về đàn áp tôn giáo tại Trung quốc, Liên Xô và các nước Đông Âu, ngay từ các thập niên 1950-60 trở đi. Lịch sử sau này sẽ công minh xét đoán về những sự lũng đoạn, phá hoại, gây phân hóa, chia rẽ, tê liệt trong hàng ngũ các cộng đồng tôn giáo dưới chế độ cộng sản ở Việt Nam từ trên nửa thế kỉ nay vậy.

V.H

Texas, tháng 8-2009

Nguồn: https://www.facebook.com/menChuayeuquehuong/posts/2036890109863935

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: