PHẠM TÂY SƠN

TỔ QUỐC VIỆT NAM – DANH DỰ – ĐỒNG BÀO TRÊN HẾT Thông tin để khai trí và phát triển.

-CÂU CHUYỆN CÁI SỔ HƯU *

Posted by phamtayson trên 18/08/2017


Tho Nguyễn FB

(Tác giả ở  Köln, Nordrhein-Westfalen viết từ năm 2012)

Việc chính phủ cánh hữu Ba-Lan hạ lương hưu của các cán bộ công an chế độ cũ từ mức cao xuống mức trung bình đươc ai đó coi là chơi xấu. Thực ra cam kết “không trả thù” được phe đối lập Ba-Lan đảm bảo suốt 28 năm qua đã chứng tỏ họ không tiểu nhân.

Nhưng trong hoàn cảnh kinh tế khó khăn, họ phải xem xét quá trình cống hiến để cân bằng quỹ lương hưu là điều bắt buộc.

Tôi đăng lại câu chuyện “Sổ Hưu” đã viết từ tháng 12.2012 để bà con ngẫm nghĩ. Các nhân vật trong này có thật 100%. Nhiều bạn FB ở đây đều biết họ:

Sổ Hưu

Bài thuyết trình của đại tá PGS-TS Trần Đăng Thanh đang là đề tài nóng trên mạng khiến tôi phải vào Ba Sàm để đọc, chứ lâu nay tôi chẳng bao giờ màng đến các bài nói chuyện, các buổi phổ biến nghị quyết kiểu đó. Về tất cả những điều bỉ ổi kiểu: “Tầu xâm lược nước ta, nhưng ta phải nhớ ơn Tầu”, hay “Ta phải học tập Triều Tiên, tuy để dân chết đói, nhưng đủ sức làm cho các cường quốc mất ăn mất ngủ” thì tôi không cần phải bàn vì chúng không đáng để nói.

Nhưng việc ông Đăng Thanh lấy chuyện sổ hưu của cán bộ ra để hô hào họ phải “chiến đấu” để bảo vệ nó, rồi ông lại lôi chuyện Đông Âu ra để dọa họ thì tôi buộc phải nêu vài ví dụ chính tôi chứng kiến để chứng minh là ông đại tá này cố tình bịa đặt, xuyên tạc lịch sử.

Tôi có rất nhiều thầy cô giáo cũ ở CHDC Đức (đều từ 70 đến 80 tuổi), đã về hưu từ ngày nước Đức thống nhất, nhưng vẫn có cuộc sống yên lành. Bà Inge L., hồi đầu là giáo viên tiếng Đức của chúng tôi. Sau năm 1971, chúng tôi về Việt Nam làm việc thì được biết bà đã chuyển sang làm công tác đảng SED (như đảng CSVN bây giờ) ở huyện Königs Wusterhausen, gần Berlin. Tuy không phải viên chức nhà nước, nhưng sau ngày thống nhất, chính quyền mới vẫn cho bà lĩnh lương hưu và bà có một cuộc sống thanh đạm, nhưng không thiếu thốn. Hiện nay bà sống cô đơn nên được xếp vào ở nhà xã hội, được bảo hiểm sức khỏe đàng hoàng. Chúng tôi thường xuyên điện thoại thăm hỏi nhau.

Năm 2006 và năm 2011 tôi có mời một số anh chị em bạn học cũ từ Việt Nam sang Đức chơi, (có thể có người đang đọc bài này). Cả hai lần chúng tôi đều kéo nhau về trường cũ, bỏ tiền ra làm một bữa liên hoan, có cả âm nhạc Việt Nam, mời toàn bộ các thầy cô đến dự. Họ rất mừng và nói: “Các học sinh Đức cũ không ai nhớ đến chúng tôi, nhưng người Việt các anh chị quả là rất ơn nghĩa, 40 năm rồi vẫn nhớ đến chúng tôi”.

Nhờ chúng tôi tổ chức họp mặt họ mới có dịp gặp nhau, vì trường cũ đã giải tán và nội bộ của họ có nhiều vấn đề: mất đoàn kết, thù hận nhau, do chính quá khứ của đảng SED để lại, nên họ không bao giờ chủ động gặp nhau.

Trong số phận của các thầy cô, tôi chỉ xin kể 2 sự việc:

1- Bà Magdalena M. vốn là một bà giáo rất đẹp gái, tóc bạch kim, cao ráo, dáng rất sang, dạy kỹ thuật truyền tin. Sau 40 năm gặp lại bà vẫn như vậy và lái xe BMW mui trần đến dự liên hoan. Trước kia tôi không quan tâm đến cuộc sống của bà, nay thấy bà nổi bật lên giữa các vị giáo già nua thanh đạm. Bà bảo: Lương hưu giáo viên của bà thì tạm đủ, nhưng ông chồng bà là đại tá không quân Quân đội Nhân dân Quốc Gia CHDC Đức. Sau khi thống nhất ông được lương hưu tương đương như ông quan năm Tây Đức nên khá lắm! Bà buồn là ông mới mất và nay bà chỉ còn sống bằng lương hưu của bà và 1 phần lương hưu bà góa của ông (Witwenrente).

Bà M. than phiền với tôi là: So với ông đại tá ở phía Tây Đức thì cái tỷ lệ lương hưu để lại cho bà góa có ít hơn.

Tôi không biết điều bà M. nói đúng hay sai, nhưng tôi an ủi bà: Ngày trước ông nhà chỉ lo mỗi việc là tiêu diệt người ta, sau này người ta trả lương hưu hậu như vậy, lúc ổng qua đời, bà còn được lương bà góa của ông nhà thì chắc là sự bất công không bằng đồng bào tôi ở Sài Gòn đã chịu, họ không những không có lương hưu mà còn phải đi cải tạo, có người chết mất cả xác.

Bà M. không phản đối điều tôi nói và trầm ngâm hẳn. Từ đó đến nay, bà vẫn hay gửi email trao đổi chuyện chính trị với tôi.

2- Ông bà Joseph và Gundela GL. là hai người tôi coi như bố mẹ nuôi. Bọn con trai, mấy thằng Erwin, Peter, Michael vẫn chơi bóng đá với đám thanh niên Việt Nam chúng tôi, con bé Martina suốt ngày quấn quít với các bạn gái Việt. Suốt mấy chục năm xa cách tôi vẫn thư từ cho bà. Đùng một cái, từ năm 1990, sau thống nhất đất nước Đức, tôi mất liên lạc với bà. Tôi dò hỏi các thầy cô cũ thì biết cả hai ông bà từng là mật vụ chìm cho STASI (An Ninh CHDC Đức) nên khi chế độ sụp đổ, mọi việc vỡ lở, ông bà xấu hổ quá, đưa cả gia đình đi xa.

Từ khi sang Đức, tôi đã cất công tìm tung tích của ông bà, vì tôi vẫn nhớ đến tình cảm của họ đối với đám thanh niên Việt chúng tôi khi xưa. Là người Việt Nam, tôi thừa hiểu cái bi kịch “cá chìm” mà hàng triệu người Đông Đức hồi đó phải gánh chịu, dù là nạn nhân hay là thủ phạm. Đối với tôi tình cảm con người là trên hết.

Nhờ có Internet và hệ thống sổ điện thoại điện tử, tôi đã tìm được gia đình ông bà GL. Ông bà có một căn nhà nhỏ trên đảo Usedom, nằm trên biển Baltic, gần Ba-lan. Ông bà rút vào cuộc sống ẩn dật để tránh mọi quan hệ với bạn bè, đồng nghiệp cũ. Câu con cả Erwin làm giám đốc trung tâm điều dưỡng trên đảo và vẫn chăm nom ông bà. Ông bà cảm động lắm và nói là họ đã mất hết bạn bè người Đức, nhưng may mà tôi đã đến với họ.

Điều làm ông bà ân hận nhất là cái “sổ hưu”. Vì là nhân viên mật vụ STASI nên ông bà có quyền cao chức trọng hơn các đồng nghiệp khác trong trường, mặc dù họ có trình độ hơn ông bà. Nhờ vậy ngày nay ông bà lĩnh lương hưu cao hơn họ, những nạn nhân của ông bà.

Đó là ở nước Đức, nơi mà một nhà nước pháp quyền phương tây tiếp quản chính quyền từ tay những người cộng sản. Nhưng ở nuớc Tiệp, nơi người dân tự chuyển đổi xã hội của mình từ độc tài sang dân chủ, vấn đề “sổ hưu” cũng không khác gì.

Cô tôi là một kiều nữ Hà Nội đầu những năm 60, lại nói tiếng Pháp giỏi nên đuợc tuyển đi làm phiên dịch cho đoàn chuyên gia địa chất Tiệp Khắc. Ông Tây Tiệp Vladimir phải lòng cô tôi và họ yêu nhau, như ở mọi nơi trên đời này. Nhưng chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa không cho phép một phụ nữ Việt Nam yêu một đồng chí Tiệp. Cuối năm 1961, Tổng cục Địa chất buộc chú tôi phải chấm dứt công tác, quay về Tiệp, để lại cô tôi bụng mang dạ chửa.

Chú Vladimir về Praha, nhờ bạn bè trong trung ương đảng CS Tiệp Khắc, nhờ cả Thủ tướng Phạm Văn Đồng can thiệp, để rồi năm 1963 cô tôi được ôm con gái xuất ngoại. Chỉ riêng những đau khổ quanh câu chuyện tình này cũng có đủ chất liệu cho một cuốn tiểu thuyết.

Khi sang Tiệp, cô chú tôi đều đi làm cho nhà nuớc Tiệp, chú là kỹ sư địa chất, cô là kế toán. Sau cuộc cách mạng nhung, cô chú tôi đều đuợc chính quyền mới trả lương hưu trí đầy đủ, nghe đâu hơn 20.000 Kcs/tháng.

Mùa hè vừa qua, sang thăm cô chú tôi tại Praha, tôi đem chuyện các thầy cô Đông Đức ra kể. Chú Vladimir bảo, các nhân viên STB cũ (Mật vụ An ninh Tiệp Khắc) nếu không vướng tội hình sự (tra tấn, giết người v.v) thì cũng được lãnh lương hưu. Rồi ông kết luận một câu hiền khô:

– Phải thế chứ, không thì họ sống bằng gì!

Một suy nghĩ cực kỳ nhân bản của một con người bình thường.

Xuân Thọ

20.12.2012 Cologne

Bài nói chuyện của đại tá Trần Đăng Thanh tham khảo ở đây: https://anhbasam.wordpress.com/…/1481-dai-ta-tran-dang-th…/…

https://scontent-sjc2-1.xx.fbcdn.net/v/t1.0-9/15781662_1501497526534982_3611380815908601218_n.jpg?oh=ac63742e17766682fd0f82cb78f7579c&oe=5A3730B3

Trong hình ảnh có thể có: 8 người, mọi người đang cười, mọi người đang đứng, đám cưới, cây và ngoài trời
Trong hình ảnh có thể có: 1 người
Trong hình ảnh có thể có: 7 người, mọi người đang cười, mọi người đang đứng và bộ vét
Trong hình ảnh có thể có: 2 người, mọi người đang cười

 _____________________________

Ký ức nước Đức sau 50 năm (2): Các thầy cô tôi

Nếu kể về chuyến đi Berlin đầu tháng 7 mà không nói đến mục tiêu chính là gặp lại các thầy cô già nua đã nuôi dạy chúng tôi ở Königs Wusterhausen (KWh) 50 năm trước thì quả là nhạt nhẽo. Nhưng việc đó đối với tôi không dễ dàng, vì có quá nhiều cảm xúc lẫn lộn.

Cộng hòa Dân chủ Đức (DDR) năm 1967 đối với chúng tôi là một thiên đường XHCN, nhưng đối với dân tộc Đức là một bi kịch lớn. Bức Tường Berlin xây vào đêm 13.8.1961 tuy chặn được dòng người tỵ nạn bỏ chế độ XHCH chạy sang phương tây trù phú, tự do, nhưng đã chia ly hàng trăm ngàn gia đình. Đã có những bộ phim nói về tình yêu đôi lứa bỗng qua đêm bị xé tan, những bà mẹ mất con, tuy chỉ cách nhau một con đường.

Nhiều người Việt hôm nay chỉ biết là Việt nam bị chia cắt theo sông Bến Hải hay Triều Tiên bị chia cắt bởi giải biên giới chạy qua Bàn Môn Điếm, nhưng ít ai biết rằng nước Đức không chỉ bị chia cắt bởi biên giới Đông Tây Đức dài 1400km mà lọt thỏm trong lòng nhà nước CHDC Đức, còn có thủ đô Berlin cũng bị chia cắt thành Đông và Tây Berlin. Đông Berlin là thủ đô nước CHDC Đức, còn Tây Berlin là một thành phố tư bản 100%, được bảo hộ bởi Mỹ, Anh và Pháp.

Hãy tưởng tượng là trước năm 1975, giữa miền Bắc còn có một Nam Hà Nội do Mỹ, Anh, Pháp quản, trong khi Bắc Hà Nội là thủ đô của nước VN Xã hội chủ nghĩa. Hãy tưởng tượng phố Trần Hưng Đạo kéo đến Ga Hàng Cỏ, vòng qua phố Khâm Thiên, Nam Đồng là đường biên chia cắt Hà Nội ra thành hai vùng Nam Bắc. Hai bên phố là hai chế độ xã hội. Ở giữa là bức tường Hà Nội có lính biên phòng đi ở trên.

Tường tượng tiếp: Để cho dân chúng Nam Hà Nội có thể duy trì nền kinh tế thị trường tự do, đảng Lao Động VN đã phải cho phép chính quyền VNCH mở 1 đường sắt, một đường ô tô cao tốc và một đường bay để giao thương từ Sài Gòn tới Nam Hà Nội. Dân Bắc Hà nội ngồi ở Tràng Tiền ăn phở không người lái, nhưng có thể suốt ngày nghe trộm nhạc vàng ỷ eo phát sóng từ Thanh Trì lên. Hàng ngày từng đoàn xe tải miền Nam cắm cờ vàng chở các loại thuốc lá thơm Capstan, 555, rượu Napoleon, Cà phê Nestle, đứng chờ ở Checkpoint Văn Điển để vào cung cấp hàng cho Nam Hà Nội. Các anh biên phòng đi giày vải, hút thuốc lào vừa làm thủ tục vừa khó chịu với những đồng bào nhưng „khác giai cấp“ kia.

Nước Đức năm 1967 mà tôi chứng kiến là như vậy, hai nhà nước với hai tốc độ phát triển kinh tế và hai nền văn hóa đi ngược chiều nhau. Trường tôi nằm trên đồi Funkerberg. Ngày đẹp trời, leo lên tháp là có thể nhìn thấy Tây Berlin rực rỡ sau 2 hàng rào dây thep gai, ở giữa là vùng đất chết, chỉ dành cho biên phòng CHDC Đức đi tuần. Đó là chiến tranh lạnh !

Mặc dù ngày nay, sau khi mọi sự thật về chế độ Stasi (Mật vụ CHDC Đức) được phơi bày làm cho khá nhiều thầy cô tôi sửng sốt về nhau, bất hạnh hoặc thậm chí căm giận nhau, tình cảm của tôi đối với từng thầy cô hồi đó vẫn không suy chuyển, bất chấp quá khứ của họ. Tôi biết, chế độ đó đã đẩy họ đến chỗ phải theo dõi nhau, phải báo cáo về nhau, thậm chí phải hại nhau vì sự sống.

Sau khi quay lại Đức năm 1991, tôi đã tìm cách liên hệ với trường Bưu điện và được biết, trường đã giải tán, tập đoàn Deutsche Telekom từ Bonn đã biến trường thành một trung tâm hội nghị của ngành bưu điện Đức. Các thầy cô được giữ lại trong ngành Bưu điện như hiệp định thống nhất nước Đức quy định, nhưng đều được phân công công tác mới. Tất cả họ nay đều có lương hưu tử tế. Thầy Schubert, cô Lanzke đã đưa gia đình sang thăm tôi ở Köln. Các thầy cô ở tuổi hưu đều sống khá cô đơn, Không ai đứng ra tổ chức cho họ gặp nhau nữa.

Nghĩ vậy, tôi đưa ra sáng kiến một cuộc hội ngộ giữa các thầy cô cũ với nhau, ngay tại khu trường cũ, nay đã thành khách sạn hội nghị của Telekom Đức có sự tham gia của một số học sinh Đức, Việt cũ. Nhưng đó không phải là việc dễ làm. Một số thầy cô hỏi là „mày định mời ai đến?“, nghe tên ông A hay ông B là họ bảo thôi, tao không đi ! Mấy bạn Đức cũ như Edith, Sabine, Günther thì mất hắn liên lạc.

Mãi đến năm 2006, nhờ có các bạn Tran Trần Văn Thái, Ho Thi Nga chung tay chúng tôi mới tổ chức được một cuộc gặp gỡ như vậy, mời khoảng 10 thầy cô quay về trường cũ họp mặt với 4-5 chúng tôi, cựu học sinh Việt Nam. Cặp nghệ sỹ Manh Hung Le + Hoa Phuong Tran cũng mang đàn T’rưng, đàn Bầu đến biểu diễn.

Các thầy bảo thật không ngờ, chính các học sinh VN lại là người đem chúng ta lại với nhau, lại được ăn nem rán và nộm của mấy chục năm trước.

Cuộc hội ngộ cảm động đó đã lôi cuốn cả mấy cô nhân viên khách sạn mà năm 1967 chưa ra đời. Nhìn cây đàn Bầu của Hoa, một cô bảo chỉ biết đến Việt Nam qua các tin về mafia thuốc lá, về lũ lụt chứ không ngờ đằng sau đó là cả một nền văn hóa như vậy, là những con người ơn nghĩa như vậy.

Về số phận của một số thầy cô, tôi đã viết trong bài „Sổ Hưu“ như sau:

1- Bà Magdalena M. vốn là một bà giáo rất đẹp gái, tóc bạch kim, cao ráo, dáng rất sang, dạy kỹ thuật truyền tin. Sau 40 năm gặp lại bà vẫn như vậy và lái xe BMW mui trần đến dự liên hoan. Trước kia tôi không quan tâm đến cuộc sống của bà, nay thấy bà nổi bật lên giữa các vị giáo già nua thanh đạm. Bà bảo: Lương hưu giáo viên của bà thì tạm đủ, nhưng ông chồng bà là đại tá không quân Quân đội Nhân dân Quốc Gia CHDC Đức. Sau khi thống nhất ông được lương hưu tương đương như ông quan năm Tây Đức nên khá lắm! Bà buồn là ông mới mất và nay bà chỉ còn sống bằng lương hưu của bà và 1 phần lương hưu bà góa của ông (Witwenrente).

Bà M. than phiền với tôi là: So với ông đại tá ở phía Tây Đức thì cái tỷ lệ lương hưu để lại cho bà có ít hơn.

Tôi không biết điều bà M. nói đúng hay sai, nhưng tôi an ủi bà: Ngày trước ông nhà chỉ lo mỗi việc là tiêu diệt người ta, sau này người ta trả lương hưu hậu như vậy, lúc ổng qua đời, bà còn được lương bà góa của ông nhà thì chắc là sự bất công không bằng đồng bào tôi ở Sài Gòn đã chịu, họ không những không có lương hưu mà còn phải đi cải tạo, có người chết mất cả xác.

Bà M. không phản đối điều tôi nói và trầm ngâm hẳn. Từ đó đến nay, bà vẫn hay gửi email trao đổi chuyện chính trị với tôi.

2- Ông bà J và G. là hai người tôi coi như bố mẹ nuôi. Bọn con trai, mấy thằng Erwin, Peter, Michael vẫn chơi bóng đá với đám thanh niên Việt Nam chúng tôi, con bé Tina suốt ngày quấn quít với các bạn gái Việt. Suốt mấy chục năm xa cách tôi vẫn thư từ cho bà. Đùng một cái, từ năm 1990, sau thống nhất đất nước Đức, tôi mất liên lạc với bà. Tôi dò hỏi các thầy cô cũ thì biết cả hai ông bà từng là mật vụ chìm cho STASI (An Ninh CHDC Đức) nên khi chế độ sụp đổ, mọi việc vỡ lở, ông bà xấu hổ quá, đưa cả gia đình đi xa.

Từ khi sang Đức, tôi đã cất công tìm tung tích của ông bà, vì tôi vẫn nhớ đến tình cảm của họ đối với đám thanh niên Việt chúng tôi khi xưa. Là người Việt Nam, tôi thừa hiểu cái bi kịch “cá chìm” mà hàng triệu người Đông Đức hồi đó phải gánh chịu, dù là nạn nhân hay là thủ phạm. Đối với tôi tình cảm con người là trên hết.

Nhờ có Internet và hệ thống sổ điện thoại điện tử, tôi đã tìm được gia đình họ. Ông bà có một căn nhà nhỏ trên đảo Usedom, nằm trên biển Baltic, gần Ba-lan. Ông bà rút vào cuộc sống ẩn dật để tránh mọi quan hệ với bạn bè, đồng nghiệp cũ. Câu con cả Erwin làm giám đốc trung tâm điều dưỡng trên đảo và vẫn chăm nom ông bà. Ông bà cảm động lắm và nói là họ đã mất hết bạn bè người Đức, nhưng may mà tôi đã đến với họ.

Sổ hưu: https://www.facebook.com/tho.nguyen.9231/posts/1501513326533402

#kyucnuocduc50nam

Phần (3) tiếp theo đọc ở đây:
https://www.facebook.com/tho.nguyen.9231/posts/1796475767037155

Trong hình ảnh có thể có: 10 người, mọi người đang cười, mọi người đang đứng và ngoài trời
Trong hình ảnh có thể có: 12 người, mọi người đang cười, mọi người đang đứng, đám cưới, bộ vét và trong nhà
Không có văn bản thay thế tự động nào.
 __________________________________________

Ký ức nước Đức sau 50 năm (3) – các thầy cô tôi, những số phận.

Tiếp theo kỳ trước

Sau lần đó chúng tôi đã tổ chức thêm 3 cuộc gặp gỡ nữa (2007, 2011, và 2013). Đáng buồn là mỗi lần lại bớt đi một người thầy hoặc cô.

Năm 2009 ông Stropahl, cựu hiệu trưởng, qua đời vào tuổi 90. Trước đó tôi có dịp nói chuyện với ông vài lần. Ông là một trong số những người cộng sản mà tôi đánh giá cao.

Những năm 1967-1971 thì tôi còn quá non nớt về chính trị để hiểu về ông. Tôi chỉ kính phục tính kỷ cương và ngay thẳng của ông trong các công việc ở trường. Trong chiến tranh thế giới hai, ông từng là sỹ quan hải quân Đức, chiến đấu trên tuần dương hạm ở biển Baltic. Trong các trận đánh nhau với tầu Liên Xô, khi bắn chìm tàu đối phương, hạm trưởng của ông cũng là một sỹ quan mang truyền thống thượng võ nước Phổ, luôn ra lệnh phải vớt bằng được tới người lính thủy Nga cuối cùng còn sống sót để đưa về cảng Satznitz. Đám sỹ quan SS trên tàu muốn hạ sát tù binh Nga với lý do đảm bảo khẩu phần ăn ít ỏi còn lại trên đường dài, nhưng hạm trưởng không cho phép và ông Stropahl luôn đứng về phía hạm trưởng.

Sau ngày thay đổi chế độ, ông không còn là đảng viên nữa và có cái nhìn nghiêm khắc về cuộc thí nghiệm quá đắt cho các ý tưởng của Marx trên quê hương ông.

Hồi tháng năm, tôi gọi cho bà G ở đảo Usedom, nói là tôi sẽ đến thăm hai ông bà vào dịp hè. Bà nói: Thọ ơi, ông J. mất hồi tháng ba rồi! Tôi ân hận kêu lên: Tôi trễ mất rồi!

Vì vậy tôi quyết đi thăm bằng được các thầy cô còn lại, chỉ sợ lại lỡ với một ai nữa trong số họ. Từ Berlin tôi rủ thêm một số anh em học trước kia đến thăm một số thầy cô ở Königs Wusterhausen và Rangsdorf. Hôm chủ nhật, vợ chồng tôi chạy thẳng lên Usedom thăm bà G.

So với các thầy cô khác, bà G có cuộc sống sung túc hơn hẳn. Vì cả hai ông bà thời CHDC Đức đều chức cao nên lương hưu rất tốt. Bà mừng lắm, luôn mồm hỏi vợ chồng tôi muốn ăn gì, uống gì rồi kể hết mọi chuyện.

Được một lúc thì cô gái út Tina lấy chồng ở Hamburg gọi điện về hỏi tôi đến chưa. Ríu rít một lúc, cô đòi địa chỉ và hẹn sẽ xuống thăm tôi. Té ra Tina vẫn còn nhớ anh Thọ kính ngày nào.

Chúng tôi ôn lại chuyện bà G. được chính phủ CHDC Đức phân công đưa đoàn chúng tôi về nước trong dịp tết 1971. Bà đã tổ chức chuyến về nước của chúng tôi rất đàng hoàng. Đến Moskwa có xe bus đưa đón, nghỉ ở khách sạn Rossia, leo lên tháp Ostankino ăn Caviar và uống Sâm banh Stolichnaya, Thăm bảo tàng Borodino, nhà hát Bolshoi v.v. Lịch bà xếp kín hết cả 4 ngày, trong khi mục tiêu của chúng tôi ở đó là phải lùng mua bằng được mỗi thằng ít nhất 2 cái quạt tai voi. Biết bà thương tôi như con, bạn bè xui tôi tỷ tê với mama để bà chuyển chuyến tour xe bus thăm thành phố thành đi mua quạt. Tôi nêu lý do là quạt tai voi sẽ giúp chống nóng trong mùa hè nghiệt ngã. Bà chiều tôi nên đồng ý thay đổi kế hoạch. Một người Đức mà thay đổi kế hoạch đã lên cả nửa năm trước thì rõ là bà thương chúng tôi đến mức nào! Đến Bắc Kinh cũng vậy, vịt quay, mì vằn thắn ăn thoải mái bằng tiền chùa, đảng bạn chi. Cả bọn như 23 ông bà hoàng (chúng tôi khi đi 25, lúc về chỉ còn 23, một anh chết bệnh, một anh ở lại chữa bệnh về sau)

Vậy mà 23 ông bà hoàng này khi về đến cửa khẩu Đồng Đăng, trước khi vào quê hương mình thì co rúm lại vì sợ Hải quan và Biên phòng Việt Nam. Đứa nào có đĩa hát, ảnh tài tử (DDR chứ không phải Hollywood) hoặc có hai đồng hồ đều mang lại đưa bà G cầm hộ. Một đống sách vở đĩa hát và đồng hồ như vậy mà làm sao bà mang thoát thì tôi cũng phục. Từ Đồng Đăng bà đã được ngồi cabin riêng với các quan chức tổng cục Bưu điện lên đón. Do vậy bà không tìm được cơ hội nào để tuồn đống hàng cho chúng tôi. Về đến ga Hàng cỏ, có xe của tổng cục dạy nghề ra đón, dẫn đi ngay. Vậy mà bà còn thoát được họ, chạy lại trao cho thằng Châu cái bao „quả cấm“ để chúng tôi chia nhau.

Bà còn kể chuyện thoát hiểm trên chuyến bay từ VN về lại Đức sau đó 4 tuần, mọi chi tiết ly kỳ đến mức tôi không tiện kể ở đây. Tôi cảm thấy nghi ngờ của các đồng nghiệp bà có thể có cơ sở. Tuy vậy, sau lần gặp này tôi vẫn thấy quý bà như xưa.

Điều làm tôi ân hận nhất là đã không quan tâm được đến số phận của bà Helgard Verleih. Bà không phải là giáo viên lớp tôi, chỉ dạy thay tiết tiếng Đức khi bà Lanzke, cô giáo của tôi bận. Nhưng người phụ nữ khắc khổ, ít nói, tình cảm đó đã để lại cho tôi ấn tượng mạnh.

Sau cái chết của ông Verleih năm 1965, bà ở một mình nuôi con. Nhà bà ở Eichwalde, cách trường 20km, hàng ngày bà đi tàu đến ga rồi đi bộ 30 phút đến trường, đeo một cái cặp da cũ kỹ đầy sách bút. Giờ nghỉ bà hay lững thững ra hành lang hút thuốc lá, mắt nhìn thẫn thờ vào không gian. Những dịp lễ, tết bà hay dẫn Michael, con trai duy nhất của bà đến chơi với tụi tôi. Michael cũng sinh năm 1951 như tôi, nhưng già dặn hơn tôi nhiều. Một năm sau, khi tiếng Đức của tôi khá vững, tôi mới hiểu được một phần những điều Michael kể về Mephisto trong tác phẩm Faust của Goethe. Chính Michael khai sáng cho tôi về cách mạng tình dục bên Thụy Điển, về „Phong trào 68“ bên Tây Âu (1) v.v.

Năm 1986, trong một chuyến đi công tác tại đài Truyền hình Tiệp Khắc, tôi tranh thủ cuối tuần mua vé sang Đức thăm lại trường Bưu điện. Bà G. mời các giáo viên cũ họp mặt đón tôi. Trong bữa liên hoan, tôi thấy thiếu bà Verleih nên hỏi. Mọi người im lặng. Tối về, bà G. cho biết là bà Verleih hiện đang không làm gì cả, không ai liên hệ với bà ấy được. Lý do là Michael Verleih, một nhà vật lý trẻ đầy khả năng đã bị bắt vì tội chống lại chế độ XHCN.

Tôi gào lên là tôi không tin điều đó! Bà G. an ủi tôi là Michael chỉ nằm trong nhóm gửi kiến nghị ngỏ lên trung ương đảng và chính phủ CHDC Đức về việc phi hạt nhân hóa lãnh thổ nước Đức.

Năm 1982 Mỹ và NATO chủ trương đưa tên lủa Pershing II vào Tây Đức để răn đe khối Warzawa, thanh niên Tây Đức xuống đường ầm ầm phản đối. Liên Xô và CHDC Đức bên này đưa các tên lửa SS có đầu đạn hạt nhân ra dọa.(2) Michael là một trong số ít trí thức Đông Đức dũng cảm lên tiếng phản đối việc đó. Sáng kiến của hắn đưa ra là: chính khách hai nước Đức hãy họp lại với nhau, bàn đến việc phi hạt nhân hai miền nước Đức đến năm 2000 (Chắc hắn hy vọng năm 2000 mới có diễn biến hòa bình)

Ngày 03.10.1983 Michael bị Stasi bắt và tuyên án bốn năm tù vì âm mưu lật đổ! (3) Bà đảng viên Verleih bị cô lập khỏi các công tác đảng và chính quyền.

(ngày 03.10.1990, đúng 7 năm sau, nước Đức thống nhất trong hòa bình)

Nghe đến đây, tôi van xin bà G. dẫn tôi đi thăm bà Verleih. Bà nói mọi kế hoạch của tôi đã được xếp lịch kín cho đến chiều mai, khi tôi lên tàu về lại Praha. Hôm đó bà đã không thương tôi, mặc dù bà biết kỹ về vụ án này.

Sau 1991, mỗi khi về trường Bưu điện, tôi vẫn hỏi về số phận hai mẹ con bà Verleih, nhưng không ai biết đến. Giờ thì tôi tin là họ không biết chứ không phải sợ như năm 1986.

Chuyến đi Usedom gặp bà G. đã thôi thúc tôi bằng mọi giá tìm lại bà Helgard và Michael Verleih.

(Còn tiếp)

#kyucnuocduc50nam

Phần 4 đọc ở đây:
https://www.facebook.com/tho.nguyen.9231/posts/1806334399384625

Phần 2 đọc ở đây
https://www.facebook.com/tho.nguyen.9231/posts/1794770563874342
———————

(1) Phong trào sinh viên 1968 ở Tây Âu có một phần nguồn gốc từ phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam, nhưng chủ yếu là muốn phá bỏ các khuôn phép của chủ nghĩa tư bản lỗi thời. Có thể coi phong trào này như một cuộc cách mạng, đưa châu Âu tiến vào kỷ nguyên của một xã hội tư bản phúc lợi cao.
(2) http://www.spiegel.de/…/25-jahre-proteste-gegen-nachruestun…
(3) http://www.ddr-zeitzeuge.de/…/ddr-…/michael-verleih-156.html

Trong hình ảnh có thể có: 14 người, mọi người đang cười
Trong hình ảnh có thể có: 12 người, mọi người đang cười, mọi người đang đứng, đám cưới, bộ vét và trong nhà
 _________________________________________________

Ký ức nước Đức sau 50 năm (4) – Michael Verleih
(tiếp theo)
#kyucnuocduc50nam

Trời đã thương tôi! Hai tuần sau khi ở Usedom về, tôi đã tìm ra Michael Verleih thông qua tổ chức DDR-Zeitzeuge (Nhân chứng thời CHDC Đức) ở Berlin. Từ khi có Internet tôi đã tìm tung tích gia đình Verleih. Trớ trêu thay, Verleih tiếng Đức có nghĩa là „mướn, thuê“ nên các máy tìm kiếm chỉ đưa ra hàng tràng các hãng cho thuê ô-tô, thuê sách, thuê phim v.v. Nhưng lần này thì có một bài ngắn về Michael Verleih hiển thị trên trang của tổ chức DDR-Zeitzeuge. Tôi gửi email cho họ và chỉ trong cùng ngày, Michael đã nhận được và trả lời tôi.

Hắn đang ở Hanau, cách tôi khoảng 230km. Những dòng tin đầu tiên của Michael đã làm tôi buồn vô cùng. Bà Helgard đã mất cách đây 10 năm. Thế là tôi lại trễ một lần nữa.

Tôi thông báo tin này cho các bạn Trần Văn Thái, Ho Nga Hue và anh Thông. Hồi đó họ không quan tâm đến Michael như tôi, nhưng khi nghe tôi báo tin, ai cũng công nhận rằng, Michael là một người đặc biệt, có chí khí và trí tuệ.

Hôm sau, một một cú điện thoại từ một máy không số gọi đến, đầu kia là Michael. Hai lão U70 nghẹn ngào một lúc rồi reo ầm lên. Cuộc điện đàm đó kéo dài cả tiếng đồng hồ, đúng vào bữa tối vợ tôi sắp dọn ra. Biết Michael ở đầu kia, vợ tôi để hai chúng tôi chuyện trò thoải mái. Vì đầu kia là một máy điện thoại cổ, quay bằng vòng số nên không hiện số. Đúng là thằng Micha (1), luôn quý trọng các giá trị truyền thống!

Micha bị tra tấn và hành hạ trong nhà tù khét tiếng của STASI (2) ở Brandenburg, nơi mà ông Heinz Verleih, bố hắn, đã từng bị Hitler giam giữ nhiều năm. Ông Heinz là một trong những thành viên sáng lập tổ chức chống phát xít „Dàn nhạc đỏ“ (Rote Kapelle) nổi tiếng trong lịch sử Đức. Ông bị SS-Gestapo bắt năm 1942. Micha nói: có rất nhiều điều diệu kỳ giúp ông sống sót qua các nhà tù của Hitler và Stalin. Quay về Đức 1948, ông đã tham gia xây dựng nền móng cho nhà nước XHCN ở Đông Đức.

Ngẫm lại, tôi không thể ngờ bà giáo khiêm tốn, khắc khổ Helgard là vợ một khai quốc công thần của chế độ DDR.

Ở nơi chín suối, ông Heinz đã không ngờ rằng, các đồng chí sau này của ông quyết giam giữ con trai duy nhất của ông bốn năm cùng đám tù thường phạm hung hãn đến mức bệnh lý, với mục tiêu dùng bàn tay chúng thủ tiêu một người bất đồng chính kiến.

Micha bảo, tuy hắn đã chuẩn bị tinh thần cho thử thách này, nhưng việc sống sót đến hôm nay là một may mắn lớn. Tháng 6.1985, sau 20 tháng tù, Micha được chính phủ Tây Đức cứu ra bằng chương trình „Mua tự do cho tù nhân“ (Häftlingsfreikauf) (3)

(Trong thời gian từ 1962 đến 1989, chính phủ CHLB Đức đã chi hơn 3,44 tỷ DM để đổi lấy tự do cho 33.755 tù chính trị trong các nhà tù Đông Đức. Ngoài ra, để chính phủ Cộng hòa Dân chủ Đức cho phép 250.000 công dân của họ sang Tây Đức định cư, chính phủ CHLB Đức đã phải chi thêm 5 tỷ DM, tổng số là 8,44 tỷ DM.)

Với kiến thức vật lý và tin học sẵn có, Michael đã mau chóng tìm được việc làm xứng tầm ở các công ty công nghệ Tây Đức, sau đó đón vợ và ba con sang đoàn tụ ngay trong năm 85.

Hóa ra vợ Micha là cô bé Gudrun, con gái một cán bộ cao cấp đảng SED (4) mà tôi cũng biết. Ông bố đã khước từ cuộc hôn nhân này và tẩy chay đám cưới năm 1975. Từ 1968 Micha đã lên tiếng phản đối khối Warzawa đưa quân vào đè bẹp mùa xuân Praha nên bị ông bố vợ tương lai ghét như hủi. (Hồi đó tôi mừng vì cho là cuộc cách mạng XHCN ở Tiệp Khắc đã được giải cứu.)

Ông ta không thể chấp nhận việc con gái mình yêu một thanh niên mà từ ngày đi học đã không chịu vào Đoàn thanh niên tự do Đức (FDJ), sau này đi làm không chịu tham gia công đoàn FDGB và luôn đặt câu hỏi về mọi chính sách của đảng và chính phủ đưa ra. Gudrun yêu Micha mà cũng không nghĩ là chồng cô có thể nuôi được mình. Ở CHDC Đức, nếu không vào Đoàn thanh niên thì chẳng bao giờ được vào đại học hoặc có nghề ngỗng gì tử tế.

Vậy mà Micha vẫn được vào đại học, đỗ xuất sắc và ra trường có việc làm ngon lành, nuôi được vợ và 3 con, trong khi vẫn giữ các quan điểm chính trị độc lập và đi trước thời đại. Micha giữ được chính kiến của mình vì bà Helgard Verleih không bao giờ bắt hắn phải vào đoàn, hay phải quy phục các tư tưởng mà hắn cho là sai trái. Tuy là đảng viên, nhưng bà tôn trọng suy nghĩ độc lập của con và giao cho con trai toàn bộ tủ sách của chồng để lại, trong đó có rất nhiều tác phẩm không bao giờ được lưu hành ở CHDC Đức. Con mọt sách Micha đã nuôi dưỡng tư tưởng tự do và lòng nhân ái bằng đống sách đó.

Khi Micha bị bắt, STASI đã tịch thu toàn bộ tủ sách và lấy đó làm bằng chứng để cáo buộc hắn là lưu giữ các tài liệu phản động. Trong thực tế ông Heinz được đặc quyền mua các đầu sách từ phương tây để nghiên cứu.

Sau khi đã ra tù, Micha mới hay rằng, một số đồng chí của bố làm trong các ngành giáo dục và khoa học đã ngấm ngầm bảo vệ hắn, luôn giúp hắn được đặc cách vào học từ cấp ba, đại học và sau này ra công tác. Họ tin vào tính ngang bướng và đầu óc thông minh xuất sắc của cậu bé Micha. Micha không ngờ mình nhận được giấy gọi từ trường đại học Humboldt là trường đại học danh tiếng nhất ở Đông Đức.

Nhưng khi những hoạt động chính trị của một Micha trưởng thành bị STASI chứng minh thì những người bạn trung thành nhất cũng không thể bảo vệ được đứa con của thủ trưởng cũ.

Từ khi Micha bị bắt, bà đảng viên Verleih đã sống trong cô đơn và tủi hổ. Đầu 1987 bà được sang Tây Đức đoàn tụ với con trai, vì đã về hưu, không nơi nương tựa. Bà mất năm 2007 mà tôi không hay biết gì.

Micha hiện đã về hưu và đang làm việc thiện nguyện cho các tổ chức giáo dục ý thức công dân. Hắn rong ruổi khắp nước Đức, nói chuyện với giới trẻ về những trải nghiệm của hắn, về lịch sử của nước CHDC Đức, về chủ nghĩa phát xít, những điều mà người mới lớn lên ít biết đến.

Có thể nói, cuộc đời của gia đình Verleih là bức tranh đậm nét về một giai đoạn lịch sử đau thương của nước Đức. Những gì tôi viết trên đây chỉ là một góc nhỏ của toàn bộ câu chuyện mà Micha kể cho tôi nghe trong những ngày qua. Tôi tiếc là mình không đủ chữ nghĩa để khắc họa nên bức tranh đó.

Hai chúng tôi hẹn gặp nhau vào một ngày tới.

Köln 30.07.2017

#kyucnuocduc50nam

Đọc phần (3) để hiểu được số phận của các nhân vật trong này:
https://www.facebook.com/tho.nguyen.9231/posts/1796475767037155

————
(1)Micha là tên gọi thân mật của Michael
(2)STASI = viết tắt từ Staatsicherheit, cơ quan an ninh quốc gia CHDC Đức
(3)https://de.wikipedia.org/wiki/H%C3%A4ftlingsfreikauf
(4)SED là viết tắt của Sozialistische Einheitspartei Deutschland , Đảng xã hội chủ nghĩa thống nhất Đức, đảng cộng sản cầm quyền ở CHDC Đức từ 1948 đến 1989

Trong hình ảnh có thể có: 14 người, mọi người đang cười
Trong hình ảnh có thể có: 2 người, mọi người đang đứng
Trong hình ảnh có thể có: 1 người, cận cảnh và văn bản
Trong hình ảnh có thể có: 1 người, râu, kính mắt và cận cảnh
 _______________________________________________

Ký ức nước Đức sau 50 năm (5): Sốc văn hóa.

(tiếp theo)

25 đứa Việt Nam chúng tôi được xếp ở tầng chệt, có riêng một phòng câu lạc bộ với một TV 24“ to đùng (hồi đó 19“ được coi là to). Khoảng 50 học sinh Đức ở tầng 2 cũng chỉ chung nhau 1 cái TV. Khu vệ sinh và phòng tắm của 25 chúng tôi cũng rộng rãi như của 50 bạn kia.

Ở chung ký túc xá mới lộ ra những mâu thuẫn về văn hóa. Những chuyện vặt như nói to, giữ vệ sinh chung nhà tắm, nhà xí, mặc quần áo ngủ đi lại trong ký túc xá, gõ cửa, cảm ơn v.v. thì chỉ sau vài lần nhắc nhở, chúng tôi học được ngay.

Nhưng người Đức rất khó chịu về việc quân ta hay mở cửa phòng. Mấy bà quản lý ký túc xá nhắc nhở thì chúng tôi hiểu, nhưng lại vấp chỉ thị cấm „trai gái“ của sứ quán (Riêng chuyện này sẽ có một bài). Anh Sỹ đội trưởng phổ biến là mỗi khi nam sang phòng nữ (hoặc ngược lại) mà không có người thứ ba trong đó thì phải mở cửa. Tôi trẻ nhất và hay giúp mọi người hoc, khi các chị sang hỏi bài, cũng phải mở cửa.

Tuy ở trên đồi Funkerberg với 9 ngọn tháp vô tuyến cao ngất ngưởng, với máy móc chuyên dụng, nhưng chúng tôi không thể nào thu được đài Tiếng Nói VN, còn báo chí thì khỏi cần nghĩ đến. Thư từ phải mất 25-30 ngày mới đến nơi (riêng đi tàu hỏa đã mất 15 ngày từ Đức về đến VN). Nguồn tin nhà duy nhất của chúng tôi là các thông báo do Đại sứ quán ở Berlin gửi hàng tháng. Đó là các bản tin của ban tuyên huấn TƯ gửi đi, nói về chiến thắng của ta trên mọi mặt trận, từ quân sự đến nông nghiệp và sự khốn khó của kẻ địch. Xen vào là nhắc nhở phải luôn cẩn thận với Chủ nghĩa Xét lại của đảng và chính phủ bạn. (Lúc đó đảng Lao động VN thiên về đường lối cứng rắn của Trung Quốc nên coi Liên Xô và các nước Đông Âu là những kẻ đòi xét lại chủ nghĩa Marx-Lenin). Vốn là con nhà tuyên huấn nòi nên tôi biết cách xử lý các thông tin đó rất đúng chỗ, đúng lúc ( vì tôi được coi là người phát ngôn của của anh Sỹ, đội trưởng). Mối quan tâm của tôi, một chàng trai mới lớn đang ở chỗ khác: Văn hóa phương tây!

Do nằm sát Tây Berlin nên việc xem và nghe „đài địch“ dễ như trở bàn tay. Nhưng các máy TV công cộng ở CHDC Đức hồi đó đều bị tháo kênh „đen“ (1). Mấy bạn Đức nói với tôi rằng ở nhà họ vẫn xem được kênh Tây Đức nên họ biết nhiều thông tin mà chúng tôi không có.

Tôi được giáo dục là văn hóa Tây Đức đầy rẫy chuyện đồi bại, TV bên đó tối nào cũng có phim sex. Tuổi 16 -17 ai không ham! Khốn khổ là cái TV của chúng tôi lại không có các kênh đó. Thế là tôi và tay Mai cùng phòng quyết tâm xé rào, đi mua lại 1 cái TV cũ được rao bán với giá 50 Mark DDR (Học bổng 250 Mark, xe đạp Diamant 250 Mark). Đó là một cái TV sản xuất từ những năm 50, kích thước đồ sộ nhưng màn hình bé tý, chỉ 9“. Khi mua hai chúng tôi bắt ông già bán máy phải chứng minh bắt được các kênh của Tây Đức, Tây Berlin.

Hai thằng khệ nệ khênh máy đi bộ 3 km về trường ở trên đồi. Taxi thì không dám thuê và sợ tốn tiền. May mà có ông Barkowski, phụ trách hành chính của trường dừng xe cho đi nhờ.

TV mang về trong niềm hân hoan của đám thanh niên và sự ngờ vực nghiêm khắc của các anh chị đảng viên.

Vì đi đường bị long mất dây mass nên về nhà bật lên TV bị bệnh nói to, có nghĩa là không thể vặn tiếng bé lại được. Màn hình của nó chỉ có 9“ nhưng hai cái loa 7“, cứ hét toáng lên. Chúng tôi tuy là dân vô tuyến điện nhưng mới vào học nên chỉ biết lấy hai cái chăn và hai cái gối chèn hai bên loa để chúng bớt hung hăng.

Dù vẫn e hèm nhắc nhở chúng tôi không được xem đài địch, nhưng các anh „lòng vả cũng như lòng sung“. Tối đó sau 22 giờ các anh cũng sang phòng chúng tôi chờ xem phim sex của Tây Đức. Chương trình TV đến một giờ sáng mới kết thúc, cả bọn cứ nín thở chờ, bật hết cả 3 kênh ARD, ZDF, SFB mà chẳng thấy gì. Mẹ kiếp, đến hết đêm thứ tư mà vẫn chưa thấy bọn tư bản động phòng, các anh chửi chúng tôi ngu, mất tiền mua TV làm gì để chúng ông mất ngủ mấy đêm liền 🙂

Rồi các anh bắt đầu bắn tiếng cho chúng tôi là phải vứt cái TV đó đi. Giờ chỉ được phép vào câu lạc bộ xem chung với mọi người. Mai và tôi ngoan cố xem trộm thêm 2-3 đêm nữa rồi cũng chịu thua bọn „tuyên huấn“ Tây Đức. Hóa ra bọn tư bản nghiêm khắc hơn quân ta, đến cái váy mini cũng dài hơn bên TV Đông Đức ba centimet.

Giờ thì biết vứt cái của nợ đó đi đâu? Hai thằng phát hiện ra gần đó có một cái hồ sâu chứa nước cứu hỏa. Vào một đêm sáng trăng, hai thằng bí mật khuân cái TV to xác, to mồm nhưng bé „não“ quẳng xuống đó, đứng chờ cho nó sủi tăm chìm nghỉm mới về.

Hơn một năm sau, chính ông béo Barkowski gọi tôi ra một góc hỏi:

– Mày có biết ném TV xuống hồ nước là phá hoại thiên nhiên không?

– …..

– Hôm qua tao thay nước cứu hỏa thấy cái TV dưới đó, biết là của mày, vì tao đã chở giúp mày. Bà G. mà biết thì chắc chắn bả sẽ mách sứ quán.

Đối với tôi, tuy đại sứ quán là nỗi sợ bất tận, nhưng tội phá hoại thiên nhiên còn kinh hơn. Từ bé tôi đã nhập tâm rằng „phá hoại“ là phản cách mạng. Tôi đứng như trời trồng, ù tai nghe ông già chửi mà không nhớ ông nói gì…. Chỉ hiểu mỗi câu:

– Tao cho vớt lên và vứt rồi. Lần sau mà vi phạm đừng có trách!

Tôi ôm lấy ông già, cảm ơn rối rít.

Köln 16.08.2017

(còn tiếp)
#kyucnuocduc50nam

Phần 4 đọc ở đây: https://www.facebook.com/tho.nguyen.9231/posts/1806334399384625
———-
(1)Der schwarze Kanal = “Kênh truyền hình đen” ám chỉ TV-Tây Đức. Đó cũng là tên một chương trình rất nổi tiếng của đài Truyền hình CHDC Đức. Các lý luận gia cao cấp của đảng SED hàng ngày lên sóng, phân tích các bản tin của TV Tây Đức mà họ biết là dân Đong Đức thich xem. Họ chứng minh với dân chúng về sự “dối trá“ và „phản động“ của các bản tin này. Vì dân chúng xem “đài địch” như cơm bữa nên không thể dấu nhẹm được. Đài TV Đông Đức chọn cách tấn công trực diện bằng lý luận marxist.

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người
Trong hình ảnh có thể có: ngoài trời
Trong hình ảnh có thể có: 3 người

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: