PHẠM TÂY SƠN

TỔ QUỐC VIỆT NAM – DANH DỰ – ĐỒNG BÀO TRÊN HẾT Thông tin để khai trí và phát triển.

-HỦY BỎ KHOẢN 3 ĐIỀU 19 DỰ THẢO BLHS LÀ HÀNH VI BẢO HIẾN!

Posted by phamtayson trên 11/06/2017


LS Trần hồng Phúc FB

10-6-2017

Thật quan ngại vì khá nhiều người làm công tác pháp luật, thậm chí có ĐBQH hiện nay còn đang băn khoăn khoản 3 Điều 19 dự thảo BLHS vi hiến ở chỗ nào trước ngày bấm nút thông qua BLHS.

Chính vì vậy, hôm nay tôi đề cập về điều này.

Thưa các vị ĐBQH, ai trong chúng ta cũng đều biết hoặc được tuyên truyền, phổ biến rằng Hiến pháp có giá trị tối cao. Nó là đạo luật cơ bản nhất của một nhà nước, thể hiện ý chí và nguyện vọng của đại đa số nhân dân. Do đó, tất cả các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan dù là quy định mang tính hiến định hay pháp định về giá trị pháp lý của Hiến pháp đều khẳng định rõ nét rằng Hiến pháp có giá trị pháp lý cao nhất trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam.

Ngày 28/11/2013, với 97,59% số phiếu tán thành, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi).

Tại Điều 119 Hiến pháp 2013 quy định: “Hiến pháp là luật cơ bản của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất. Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp. Mọi hành vi vi phạm Hiến pháp đều bị xử lý”. Chính vì vậy, khoản 1 Điều 14 Luật bành hành VBQPPL 2015 cũng có quy định nghiêm cấm việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp.

Xét về mặt lý luận, thì tính chủ đạo của Hiến pháp trong hệ thống pháp luật quốc gia biểu hiện ở chỗ nó là cơ sở để ban hành ra các văn bản quy phạm pháp luật khác và khi các quy định trong Hiến pháp thay đổi thì các văn bản quy phạm pháp luật khác tất yếu phải thay đổi theo. Cho nên, không thể có việc xây dựng pháp luật trái Hiến pháp!

Tiệm cận vấn đề này tôi tiếp tục đưa ra quan điểm phản biện về dự thảo khoản 3 Điều 19 BlHS là vi hiến. Theo đó, nếu Quốc hội bãi bỏ điều khoản này cũng chính là thực hiện hành vi BẢO HIẾN.

TRÁCH NHIỆM BẢO HIẾN THUỘC VỀ AI?

Khoản 2 Điều 199 Hiến pháp 2013 quy định: “Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan khác của Nhà nước và toàn thể Nhân dân có trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp”. Như vậy, với quy định này Quốc hội là chủ thể đi đầu và người dân là chủ thể sau cùng có trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp.

Theo đó, cá nhân tôi cũng như nhiều luật sư đồng nghiệp trên cả nước, các luật gia, chuyên gia pháp luật… góp ý hủy bỏ khoản 3 Điều 19 dự thảo BLHS chính là chúng tôi đang cùng Quốc hội và các cơ quan, cá nhân có trách nhiệm theo quy định của Hiến pháp thực hiện và làm tốt trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp.

BIỆN PHÁP BẢO HIẾN NHƯ THẾ NÀO?

Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền, hoạt động theo nguyên tắc pháp chế XHCN, nên tất cả mọi cơ quan, tổ chức và công dân đều phải chấp hành Hiến pháp và pháp luật.

Chúng ta tuân thủ Hiến pháp trước tiên là làm theo Hiến pháp.

Đừng nên rả rả nói rằng trong hệ thống luật Quốc gia, Hiến pháp là đạo luật có giá trị pháp lý cao nhất, VBQPPL khác khi được ban hành đều phải tuyệt đối tuân theo Hiến pháp, nếu trái đều phải bãi bỏ hay đình chỉ thi hành. Thế nên, khoản 3 Điều 19 mới chỉ đang là dự luật, cần được Quốc hội thảo luận thông qua, nếu các ĐBQH chưa có đầy đủ tâm thức để tiếp cận đây là quy định vi hiến thì khó có thể thực hiện trách nhiệm bảo hiến của mình.

Trong quyền hạn của mình, Quốc hội có quyền thông qua hoặc không qua khoản 3 Điều 19. Chỉ e rằng, Quốc hội thông qua điều khoản dự thảo ấy là có dấu hiệu vi phạm Hiến pháp một cách chủ động. Tức là, Quốc hội có thẩm quyền ban hành BLHS nhưng trong đó có khoản 3 Điều 19 của Bộ luật trái với quy định của Hiến pháp mà vẫn thông qua.

Đừng vì thiên vị cho quản lý Nhà nước để tạo ra khoản 3 Điều 19 mang lại “thuận lợi có chủ ý” cho các cơ quan tiến hành tố tụng xử lý đối với người bào chữa mà vô hình trung, đẩy những bất lợi về phía người dân là đối tượng chịu sự quản lý và tác động của điều dự luật. Hậu quả là vi phạm các quyền của người dân được Hiến pháp bảo đảm, vi phạm quyền hành nghề của luật sư không được thực thi độc lập theo quy định của pháp luật.

Đừng vì lập luận ban hành nó là cần thiết cho an ninh quốc gia, cho bảo vệ Tổ quốc trên cơ sở những người đề xuất dự thảo điều luật này mang tính giả định cao (chẳng có thân chủ nào dại dột đi trình bày về việc mình chuẩn bị phạm tội cho bất kỳ ai) và tính phi thực tế (đến nay chưa tìm ra trường hợp nào luật sư bị xử lý trách nhiệm hình sự về không tố giác tội phạm đối với thân chủ mà mình bào chữa ở Việt Nam) chỉ để nhằm mục đích muốn tăng thêm chức năng, quyền hạn của mình và coi nhẹ quyền con người trong đó có quyền của người bị buộc tội, quyền hành nghề độc lập của luật sư.

KHOẢN 3 ĐIỀU 19 VI HIẾN RA SAO?

Trước hết, chúng ta hãy nói với nhau thể nào là “vi hiến”? Có khá nhiều cách diễn giải về hành vi vi hiến nhưng tựu chung lại, chúng ta có thể đồng ý với nhau rằng: Vi hiến là hành vi làm trái quy định của Hiến pháp. Một hành vi/văn bản được coi là vi hiến, nếu nó vi phạm bất kỳ quy định nào đó trong Hiến pháp và đương nhiên hành vi vi hiến có thể được thực hiện bởi bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào trong xã hội không loại trừ các cơ quan công quyền (Quốc hội, Chính phủ, Tòa án và các cơ quan tư pháp khác…) và xảy ra ở bất cứ thời điểm nào trong thời gian Hiến pháp có hiệu lực.

Và bây giờ, chúng ta cùng nhìn lại việc tôn trọng pháp luật quốc tế theo tinh thần Hiến pháp của nhà nước ta:

Từ ngày 14/01/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhân danh nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa nộp đơn xin gia nhập Liên hợp quốc nhưng gặp nhiều khó khăn trước sự không công nhận của các nước trên thế giới. Sau khi giải phóng miền Nam, ngay từ những tháng năm đầu tiên của chính quyền thống nhất, tháng 7/1975 phái đoàn miền Bắc và miền Nam của Việt Nam sang New York để vận động tham gia Liên hợp quốc. Công cuộc vận động gian nan và cho đến ngày 20/9/1977 thì Quốc kỳ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam mới được tung bay trước trụ sở Liên hợp quốc tại Lễ kết nạp Việt Nam là thành viên chính thức.

Tại Điều 12 Hiến pháp 2013 có quy định rất rõ việc Việt Nam tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Và theo Điều 56 Hiến chương Liên hợp quốc có quy định: “Tất cả thành viên cam kết bằng các hành động chung hoặc riêng trong sự nghiệp hợp tác với Liên hợp quốc để đạt được những mục đích ở Điều 55” và một trong các quy định quan trọng tại Điều 55 là : “Tôn trọng và tuân thủ triệt để các quyền con người và các quyền tự do cơ bản của tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hay tôn giáo”.

Điều 1 Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền quy định:”Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và các quyền.”

Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua thông qua ngày 16/12/1966, có hiệu lực ngày 23/3/1976 và Việt Nam gia nhập Công ước này vào ngày 24/9/1982 trong đó tại Điều 14 Công ước cũng quy định mọi người đều có quyền được hưởng một cách đầy đủ và hoàn toàn bình đẳng về những bảo đảm tối thiểu khi phạm tội hình sự, họ không bị buộc phải đưa ra lời khai chống lại mình hoặc buộc phải nhận là mình vô tội.

Như vậy, với các quy định chung của pháp luật Quốc tế cho thấy quyền công dân có thể chịu sự điều chỉnh và mang tính đặc thù theo thiết chế của mỗi quốc gia nhưng đối với quyền con người thì phổ quát chung trên toàn thế giới nên khi xây dựng và ban hành Hiến pháp 2013 thì Nhà nước ta tiếp tục hướng đến việc tuân thủ các quy định của pháp luật quốc tế về quyền con người, sau mới đến quyền công dân.

Nhìn lại về quy định thực định đối với quyền bào chữa tại Hiến pháp :

Điều 3 Hiến pháp 2013 quy định:”Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân.”

Điều 31 Hiến pháp 2013 cũng quy định: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” và “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa”.

Theo đó, tinh thần của Hiến pháp là công nhận và bảo vệ quyền con người. Một trong các quyền con người biểu hiện rất rõ trong nền tư pháp dân chủ, công bằng có quyền bào chữa. Đây là quyền hiến định được Nhà nước pháp quyền đặc biệt quan tâm dành cho người dân của mình khi họ rơi vào vị trí của người bị buộc tội.

Tuy nhiên, dự thảo khoản 3 Điều 19 đang buộc Người bào chữa phải tố giác thân chủ đối với 83 tội danh quy định trong BLHS. Như vậy, quy định này đang trực tiếp hạn chế quyền con người, cụ thể xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội nếu họ bị người bào chữa của mình thực hiện tố giác ở 83 tội danh, đặc biệt gây bất lợi rất lớn cho người bào chữa trong hoạt động hành nghề, phải làm trái quy định của BLTTHS 2015, Luật luật sư 2012 và Quy tắc đạo đứcvà ứng xử nghề nghiệp (đối với luật sư làm người bào chữa).

Quyền bào chữa là một trong những quyền thiết yếu của quyền con người, của quyền công dân không may vướng vào lao lý. Nhà nước bảo đảm quyền này cho người bị buộc tội chỉ để tạo ra sự công bằng và cho họ được đối xử bình đẳng trong trình tự tố tụng vụ án hình sự mà họ bị buộc tội. Phân vai cho người bào chữa đi gỡ tội để tạo ra sự tranh tụng đối lập với bên buộc tội là điều tra tra và công tố, nhằm chứng minh sự thật khách quan, để vụ án xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Giờ BLHS quy định với 83 tội danh mà người buộc tội trình bày cho người bào chữa thì người bào chữa phải tố giác chính thân chủ mình. Vậy là, cơ chế tranh tụng bị phá bỏ do không còn người bào chữa. Tính bảo hiến của quyền bào chữa là phải bảo đảm nghĩa vụ độc lập của người bào chữa trong vai người gỡ tội và đóng góp vào cơ chế tranh tụng đối xứng công bằng, theo quy định của BLTTHS. Việc dùng điều luật để áp chế người bào chữa rời bỏ nhiệm vụ bào chữa của mình hoàn toàn là vi hiến, chưa kể đến việc ở vào vị trí của người đi gỡ tội (nhà nước chỉ định hay người dân mời) luật sư cũng sẵn sàng bị rơi vào vị trí của người bị buộc tội bất kỳ lúc nào nếu không tố giác thân chủ của mình đối với 83 tội danh hoặc đi tố bừa tố ẩu (phạm vào vu khống)! Việc tham gia bào chữa, thực hiện nghĩa vụ mà nhà nước giao để trở thành tội phạm nếu không tố giác thân chủ hoặc bị thân chủ tố về vu khống liệu có ai dám hành nghề không? BLHS dễ dàng biến luật sư từ người bào chữa thành kẻ bị buộc tội ngay trong bối cảnh thực hiện bào chữa, không lẽ đó là hành vi BẢO HIẾN?

Ngoài ra, chúng ta cũng phải chú ý đến việc xung đột pháp luật quốc gia (khoản 3 Điều 19 đang mâu thuẫn với BLTTHS, Luật luật sư…), liệu đó có phải là tinh thần của Hiến pháp và Luật ban hành VBQPPL hướng tới?

Tôi đã có nhiều bài viết phân tích việc dự thảo khoản 3 Điều 19 nhìn từ góc độ vi phạm của Nhà nước nếu điều khoản này được thông qua, cần xem lại quy trình lập pháp có đúng không, công tác đánh giá tác động chính sách pháp luật thực hiện ra sao đối với quy định chỉ mang tính giả định và phi thực tiễn…nên sẽ không lặp lại trong bài viết này, mà tinh thần chung chỉ muốn đề cập đến vấn đề vi hiến nêu trên.

GIẢI PHÁP NÀO ĐỂ BẢO HIẾN TRƯỚC DỰ THẢO KHOẢN 3 ĐIỀU 19?

Từ nhiều năm nay, chúng ta đều thấy chưa có cơ quan độc lập và chuyên trách để thực hiện chức năng bảo hiến, mặc dù trách nhiệm bảo hiến không loại trừ bất kỳ chủ thể nào trong xã hội!

Cơ chế bảo hiến ở ta hiện nay thông qua cơ chế giám sát tối cao của Quốc hội được quy định tại Điều 6 Luật Tổ chức Quốc hội 2014 và Điều 4 Luật hoạt động giám sát Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2015. Theo đó, Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thực hiện giám sát việc thi hành Hiến pháp; Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình giám sát việc thực hiện Hiến pháp.

Tuy nhiên, nghiên cứu kỹ hoạt động của bộ máy Quốc hội theo quy định tại khoản 2 Điều 70 Luật tổ chức Quốc hội 2015 thì dễ nhận thấy Ủy ban Pháp luật của Quốc hội có thể được xem là cơ quan chuyên trách khả thi nhất, quan trọng nhất về chức năng bảo hiến bởi vì cơ quan này có chức năng, nhiệm vụ bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật đối với các dự án luật, dự án pháp lệnh trước khi trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua. Thậm chí, Ủy ban này còn có chức năng thẩm tra về văn bản có dấu hiệu trái Hiến pháp của rất nhiều cơ quan quan trọng như: Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam…

Hy vọng rằng Ủy ban pháp luật Quốc hội, các vị Đại biểu Quốc hội nhiều ngày qua đã nghe đủ ý kiến của cử tri chúng tôi về dự thảo khoản 3 Điều 19 để hiểu được tính hợp hiến hay vi hiến mà nó đang chứa đựng.

Liệu có cần Ủy ban Thường vụ Quốc hội phải thực hiện nhiệm vụ giải thích pháp Hiến pháp theo quy định tại Điều 74 Hiến pháp 2013 hay không cho trường hợp này, thì có lẽ cũng xin bỏ ngỏ và tạm chờ câu trả lời trong ngày 20/6/2017 tới đây khi các ĐBQH ấn nút thông qua Điều 19 dự thảo BLHS.

Với tâm thức của cử tri, người dân nào cũng chỉ mong muốn và hy vọng rằng mọi hành vi vi phạm Hiến pháp đều được xem xét, xử lý nghiêm minh (Điều 119 Hiến pháp 2013) để HIẾN PHÁP MÃI LÀ ĐẠO LUẬT CAO NHẤT CHO TOÀN DÂN TUÂN THỦ!

Luật sư Trần Hồng Phúc
(Bài viết thể hiện quan điểm của riêng tác giả)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: