PHẠM TÂY SƠN (Phạm đình Tuấn)

TỔ QUỐC VIỆT NAM – DANH DỰ – ĐỒNG BÀO TRÊN HẾT Thông tin để khai trí và phát triển.

-Đôi điều với GS Nguyễn Đình Cống và LS Lê Công Định về “Tuyên bố độc lập” 12-3-1945 của Bảo Đại.

Posted by phamtayson trên 26/08/2016


Trương nhân Tuấn FB

26-8-2016

Trong bài “Vài đánh giá nhầm trong Cách mạng Tháng tám”, tác giả GS Nguyễn Đình Cống viết rằng: “theo nghiên cứu và công bố của một số sử gia độc lập thì Tuyên bố Việt Nam độc lập của Bảo Đại và Chính phủ Trần Trọng Kim có đủ cơ sở và giá trị pháp lý”.

“Một số sử gia độc lập” đó là (những) ai và (các nghiên cứu đã được) công bố ở đâu ?

Câu hỏi này tôi có đặt ra trong phần “comments” trên facebook của GS Nguyễn Đình Cống. Đến nay vẫn không (chưa) thấy GS Nguyễn Đình Cống trả lời.

Tôi tự tìm câu trả lời trên Net. Thấy có một số bài viết về nội dung “tuyên ngôn độc lập”. Đáng chú ý là bài “Ngày độc lập nào cho Việt Nam” của tác giả LS Lê Công Định, đăng trên BBC ngày 1-9-2014.

Với tất cả lòng kính trọng của tôi đến với quí vị tác giả, thực tình tôi không thấy lời giải thích nào ổn thỏa, cho rằng “tuyên bố độc lập của Bảo Đại là giá trị pháp lý”.

Từ bài viết vắn tắt trên BBC, LS Lê Công Định cho rằng: “Với tư cách là một đại diện chính danh và hợp pháp của một chính quyền đã và đang cai trị đất nước liên tục từ năm 1802, vua Bảo Đại ngay lập tức tuyên cáo Việt Nam độc lập… Do đó, xét về phương diện thực tế và pháp lý, Việt Nam đã thực sự độc lập từ ngày 11/3/1945.”

Theo tôi, ý kiến của LS Lê Công Định, “trên phương diện thực tế”, là không phản ảnh hết bối cảnh lịch sử. Còn trên phương diện “pháp lý”, là không đủ lý lẽ thuyết phục.

“Trên thực tế”, nhà Nguyễn không “liên tục cai trị đất nước”, nếu tính từ thời Gia Long 1802 cho tới khi Bảo Đại ra tuyên ngôn độc lập 12-3-1945.

Nam kỳ trở thành “nhượng địa” của Pháp từ năm 1867. Việc này xác định qua Hòa ước Giáp tuất 1874. Đến năm 1884, vương quốc của nhà Nguyễn, (bị Pháp chia ra) gồm Trung kỳ (Pháp đặt tên là An nam) và Bắc kỳ (Tonkin), tất cả trở thành đất bảo hộ của Pháp. Mọi phương diện quốc phòng, ngoại giao, thuế má… đều nằm trong tay Toàn quyền Pháp.

Nói là nhà Nguyễn “cai trị liên tục” từ 1802 (đến năm 1945) là không đúng.

Trên phương diện “pháp lý”, các quan điểm luật học về “chủ quyền” hay sự “liên tục quốc gia”, là các khái niệm khá mới mẻ, chỉ mới xuất hiện sau Thế chiến Thứ II, nhưng nó đã bắt nguồn sâu xa (từ hòa ước Westphalie 1648). Nếu đứng trên các quan điểm này (giả sử rằng ta có thể áp dụng), thì “quyền lực” của nhà Nguyễn sau 1884, vừa không thể hiện tính “độc quyền” (vì còn có sự hiện diện của đế quốc Pháp), vừa không “tối cao” (vì có thẩm quyền của Pháp cao hơn), lại vừa không bao trùm trên toàn lãnh thổ (vì Nam kỳ đã nhượng đứt cho Pháp).

Nếu vịn vào khái niệm “dân tộc tự quyết” (do tổng thống Mỹ Wilson đề nghị từ năm 1918, ở Hòa ước Versailles, mà các nhà yêu nước VN thời đó vịn vào để lập bản Yêu sách 8 điểm gởi đến nhà cầm quyền Pháp) thì tuyên bố độc lập của Bảo Đại cũng không có giá trị. Đơn giản vì hành vi của Bảo Đại thiếu yếu tố “dân tộc”.

Như vậy, theo LS Định, căn bản “pháp lý” ở đây là đâu ? của phe nào ? của Nhật ? của Pháp ? hay của quốc tế ?

Nhật sau khi đảo chánh Pháp, đề nghị Bảo Đại “trả lại độc lập”. Tuyên bố của Bảo Đại vì vậy có thể phù hợp với pháp luật của Nhật. Điều tiếc là Nhật, phía thua trận trong Thế chiến Thứ II, hoàn toàn mất mọi chủ quyền, ngay cả ở “đất mẹ”. Theo qui định của phe chiến thắng (Đồng minh), tất cả các nhà nước do Nhật dựng lên ở các thuộc địa của Nhật đều không được nhìn nhận.

Vấn đề là VN có phải là “một thuộc địa của Nhật” hay không ? và nhà nước “Đế Quốc Việt Nam” của Bảo Đại, có phải do Nhật dựng lên hay không ?

Nếu có đọc hồi ký của Bảo Đại, hay hồi ký mang tên “Dọc đường gió bụi” của cụ Trần Trọng Kim, ta cũng thấy rằng những người trong cuộc, cả hai ông Bảo Đại và Trần Trọng Kim, đều nhìn nhận rằng nền độc lập mà Nhật trao trả chỉ là hình thức.

Hồi ký “Dọc đường gió bụi” của Trần Trọng Kim, có đoạn viết lại lời của Bảo Đại, lúc mời ông ra làm thủ tướng:

“Trước kia người mình chưa độc lập. Nay có cơ hội, tuy chưa phải độc lập hẳn, nhưng mình cũng phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập. Nếu không có chính phủ thì người Nhật bảo mình bất lực, tất họ lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta. Vậy ông nên vì nghĩa vụ cố lập thành một chính phủ để lo việc nước.”

Bảo Đại nhìn nhận VN “chưa độc lập hẵn” và quyết định lập chính phủ là lo sợ Nhật “cai trị theo thể lệ nhà binh”.

Việc “chưa độc lập hẵn” tức là còn lệ thuộc.

VN lệ thuộc Nhật về cái gì ?

Thực tế cho thấy VN lệ thuộc Nhật về mọi mặt, không khác chi thời thuộc Pháp: quốc phòng, ngoại giao…

Tức là, về thực chất, nền “độc lập” của “Đế quốc Việt Nam” của Bảo Đại, không khác chi nhiều số phận của VN dưới thời Pháp thuộc.

Trên phương diện quốc tế, trước và sau khi Nhật đầu hàng, các nước Đồng minh chưa bao giờ công nhận “Đế quốc Việt Nam” của Bảo Đại. Điều này Bảo Đại thú nhận qua việc những lá thư mà ông này gởi lãnh đạo các nước Đồng minh như Mỹ, Anh, Pháp… Những lá thư này đều không được trả lời.

Một số các tác giả khác, vịn lý do Pháp đã không thi hành nội dung Hòa ước 1884, (không bảo vệ được VN trước việc Nhật gây hấn), do đó văn bản này không còn giá trị pháp lý. Bảo Đại dựa vào việc này tuyên bố độc lập. Tuyên bố của Bảo Đại vì vậy hợp pháp.

Lý lẽ này đã từng được Bảo Đại sử dụng để thuyết phục cụ Trần Trọng Kim ra lập chính phủ. Hồi ký “Dọc đường gió bụi” ghi lại lời của Bảo Đại như sau:

“Trước kia nước Pháp giữ quyền bảo hộ nước ta, nay đã không giữ được nước cho ta, để quân Nhật đánh đổ, vậy những điều trong hiệp ước năm 1884 không có hiệu quả nữa, nên Bộ thượng thư đã tuyên hủy hiệp ước ấy. Trẫm phải đứng vai chủ trương việc nước và lập chính phủ để đối phó mọi việc.”

Khi Nhật “đảo chính” Pháp, giành lấy quyền lực của Pháp tại các xứ Đông dương. Đối với VN, Pháp đã không hoàn thành trách nhiệm đã cam kết trong Hòa ước 1884. Ta có thể nói rằng Hòa ước 1884 mất hiệu lực thi hành, lỗi do phía Pháp, vì vậy nó trở thành “caduc – vô hiệu lực”.

Nhưng hòa ước 1884 vô hiệu lực là do hệ quả của việc Nhật đảo chánh Pháp, chớ không hề do “tuyên bố độc lập của Bảo Đại” (như một số người đã biện luận).

Điều cần xem xét là “tuyên bố độc lập” của Bảo Đại có hiệu lực pháp lý hay không ?

Tất cả những tuyên bố về độc lập hiện hữu ở VN, như tuyên bố của Bảo Đại 12-3-1945 hay tuyên ngôn độc lập 2-9-1945 của ông Hồ, đều là những tuyên bố đơn phương (về ý định). Hiệu lực pháp lý các tuyên bố độc lập (đơn phương) tùy thuộc hai điều kiện : 1/ có quốc gia nào “nhìn nhận” nền độc lập này không ? 2/ Phía ra tuyên bố có khả năng “ép buộc” các bên khác “nhìn nhận” nội dung tuyên bố hay không.

Thực tế cho thấy không có quốc gia nào (ngoài Nhật) nhìn nhận nền độc lập của Đế Quốc Việt Nam. Khi đế quốc Nhật sụp đổ, đế quốc của Bảo Đại sụp đổ theo. Bảo Đại thoái vị và giao chính quyền cho VM. Những việc này cho thấy Bảo Đại không có “khả năng” ép buộc các nước khác nhìn nhận tuyên bố của mình.

Tuyên bố độc lập của Bảo Đại vì vậy không có giá trị pháp lý. Điều này đưa đến hệ quả là nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – nhà nước kế thừa từ Đế Quốc VN (do việc đại diện VM nhận ấn và kiếm, biểu hiện quyền lực của Bảo Đại) của ông Hồ cũng không có căn bản pháp lý.

Tôi không biết, ngoài các lý lẽ này, còn có lý lẽ nào, của các sử gia, những nhà nghiên cứu nào (mà GS Nguyễn Đình Cống) đã tham khảo, cho rằng “Tuyên bố Việt Nam độc lập của Bảo Đại và Chính phủ Trần Trọng Kim có đủ cơ sở và giá trị pháp lý” ?

___________________________________________

VÀI ĐÁNH GIÁ NHẦM TRONG CM THÁNG 8  -Nguyễn đình Cống -(PTS)

Ngày độc lập nào cho Việt Nam? – LS Lê công Định -(BBC)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: