PHẠM TÂY SƠN

TỔ QUỐC VIỆT NAM – DANH DỰ – ĐỒNG BÀO TRÊN HẾT Thông tin để khai trí và phát triển.

-Chuyển nước sông Mê Kông: Thấp thoáng bóng Trung Quốc

Posted by phamtayson trên 25/07/2016


Đatviet

25-7-2016

(Quan điểm) – Các chuyên gia đã lên tiếng cảnh báo về những rủi ro tiềm ẩn khi Thái Lan, Lào, Campuchia đẩy mạnh các dự án chuyển nước sông Mê Kông.

Các đại dự án chuyển nước Mekong ”báo tử” ĐBSCL

Dưới sự hỗ trợ của Trung tâm con người và thiên nhiên, một nhóm các chuyên gia đã đi khảo sát thực tế tại Campuchia, một số tỉnh Đông Bắc của Thái Lan tìm hiểu về các dự án chuyển nước dòng Mê Kông của hai nước này.

Tại tọa đàm: “Rủi ro tiềm ẩn từ các dự án chuyển nước sông Mê Kông tới ĐBSCL”, ngày 20/7, TS Nguyễn Nhân Quảng – Chuyên gia quản lý lưu vực sông, người dẫn đầu đoàn khảo sát, nêu rõ: “Các đại dự án chuyển nước của Thái Lan có 2 loại: Thứ nhất, là từ lưu vực sông Mê Kông sang lưu vực sông khác; các tuyến dự án Kok-Ing-Nan, Ing Yom…

Thứ hai, chuyển nước trong lưu vực sông Mê Kông, từ bờ trái sang bờ phải, từ bờ phải vào sâu nội địa với nhiều tuyến khác nhau.


Chuyen nuoc song Me Kong: Thap thoang bong Trung Quoc

TS Nguyễn Nhân Quảng phát biểu tại tọa đàm

Đầu tiên phải nói đến là dự án tuyến Mê Kông – Huai Luang – Nong Han – Lam Pao: Dự án dự kiến xây dựng khoảng 30 hồ chứa gần hợp lưu của các sông nhánh với sông Mê Kông  để chuyển nước sông Mê Kông vào trữ tại các hồ chứa, tưới cho các vùng canh tác.

Dự án đã được Ủy ban Nước Quốc gia Thái Lan thông qua (ngày 12/1/2016) và đang chờ thẩm định Báo cáo đánh giá tác động môi trường. Trên thực tế đã thực hiện được giai đoạn 1 bằng việc xây hồ chứa Nong Han với diện tích khoảng 22.500 rai, tôn cao đê bao để trữ nước mùa mưa phục vụ tưới cho các diện tích canh tác quanh khu vực các hồ.

Từ khi có hồ, với mục nước vừa phải, các loài cây sống trong nước, đặc biệt là hoa sen/hoa súng đã làm khu vực trở thành điểm du lịch hấp dẫn du khách, là nguồn sống của nhiều người dân địa phương.

Với hệ sinh thái phong phú, vùng hồ Nong Han với diện tích 45km2 đang được đềnghị là điểm RAMSAR. Nếu đào hồ sâu thêm, tôn cao đê bao quanh để dung tích đạt 102 triệu m3, hàng năm phải chuyển 2,8 tỷ m3 nước từ sông Mê Kông, các hệ sinh thái ảnh hưởng, sen/súng sẽ chết.

Thực tế, Thái Lan đã xây một đập tạm trên sông Huai Luang gần cửa sông Mê Kông (cách 100m) trên đó lắp đặt 4 máy bơm, mỗi ống đường kính 0,5m để bơm nước với lưu lượng khoảng 600m3/giờ khi cần qua đập tạm lên đoạn sông từ đập tạm đến cửa điều tiết cách đó 1km.

Tại đập này có 3 cửa van phẳng, trong mùa kiệt 2 cửa đóng kín, còn cửa thứ ba không hết mà chỉ đóng tới mức chênh lệch thượng hạ lưu khoảng 2m. Từ sát cửa này phía hạ lưu, 4 máy bơm nữa được lắp đặt để bơm nước từ đoạn trung chuyển lên đập.

Một dự án khác đó là dự án Kong-Loei-Chi-Mun, đây là dự án do Cục Tưới Hoàng gia Thái lan làm chủ đầu tư. Việc chuẩn bị xây dựng dự án được chia làm 9 giai đoạn, trong đó, giai đoạn 1 sẽ được triển khai trong 450 ngày, từ 9/10/2015 đến 31/12/2016.

Mục đích của dự án là chuyển nước từ sông Mê Kông về lưu vực sông Chi/Mun vùng Đông Bắc. Dự án có 6 kênh với tổng chiều dài là hơn 2.200k, chảy qua 17 tỉnh và 113 huyện.

Lưu lượng nước lấy từ sông Loei (sát cửa sông Mê Kông) dao động trong khoảng 138-147 m3/s. Có thông tin lượng nước chuyển qua Loei vào Chi-Mun có thể lên tới 4 tỷ m3/năm.

Riêng với Campuchia, do đặc điểm thủy văn dòng chảy của sông Mê Kông, chênh lệch giữa lượng nước trong mùa mưa lũ và mùa khô là khá lớn. Hàng năm, trong thời kỳ nước lũ sông Mê Kông từ thượng nguồn chảy về quá lớn, lòng dẫn sông Mê Kông không đủ khả năng tiêu thoát nên đã xảy ra hiện tượng chảy tràn hai phía bờ sông.

Vì vậy không chỉ trong mùa khô mà ngay cả cuối mùa mưa, nhiều địa điểm thuộc Campuchia đã thiếu nước tưới.

Vì thế, nước này cũng đang thực hiện dự án tưới Vaico, là dự án do nhà đầu tư Trung Quốc thực hiện, với mục đích chuyển nước lũ sông Mê Kông chảy tràn qua bờ tả và qua sông Samdei vào trữ tại hồ Krapik (dung tích trữ khoảng 800-100 triệu m3) dẫn nước cho các vùng trồng lúa ở phía hạ lưu thuộc các tineh Kampong Cham, Prey Veng và Svey Rieng, diện tích tưới gồm gần 110.000ha mùa mưa và hơn 27.000 ha mùa khô. Dự án chia làm 2 giai đoạn với tổng kinh phí khoảng 200 triệu USD.

Giai đoạn 1 từ năm 2012 đến 2017 với các hạng mục chính là một cống lấy nước mùa lũ từ sông Samdei tại vị trí gần làng Dom Nak Prean. Tuyến kênh chính dẫn nước từ hồ đi các tỉnh Kongpong Chàm, Preyveng, Sveyreng.

Việt Nam gánh họa

Đánh giá về tác động của các dự án chuyển nước trên đến vùng hạ lưu, ông Quảng chỉ rõ: “Nếu tất cả các dòng nhánh bên bờ hữu sông Mê Kông thuộc Thái Lan (khoảng trên 20 sông nhánh lớn nhỏ) đều có các cống/trạm bơm lấy/chuyển nước vào trữ trong các hồ chứa, cùng với các dự án tương tự ở Campuchia, lượng nước lũ về ĐBSCL của Việt Nam sẽ giảm bớt.

Lượng nước lũ giảm bớt cộng với tác động làm thay đổi chế độ dòng chảy lũ do việc tích nước và vận hành các đập thủy điện trên thượng lưu, hiện tượng lũ lớn hay “lũ đẹp” thường thấy trước đây ở ĐBSCL vì thế nay ít xuất hiện.

Ngoài số lượng nước, lượng phù san chắc chắn cũng sẽ bị suy giảm. tác dụng thau chua, rửa phèn, bồi bổ phù sa cho các diện tích canh tác ở ĐBSCL sẽ bị ảnh hưởng.

Các tác động này, cộng với các tác động do các đập thủy điện gây ra sẽ là đáng kể, đặc biệt là thay đổi chế độ dòng chảy mùa mưa/lũ và các tác động tới hệ sinh thái môi trường thủy sinh, các loài cá”.

Trong khi đó, TS Nguyễn Hồng Toàn – Chuyên gia Ủy ban sông Mê Kông Việt Nam lại cho rằng, vấn đề chuyển nước trên lưu vực sông không phải vấn đề mới, nó đã tồn tại từ những năm 1960, Thái Lan đã có nhiều chương trình tận dụng nước sông; năm 1990 nghiên cứu các hồ trữ nước; năm 2004, xúc tiến một số dự án vùng Đông Bắc; năm 2006, bắt đầu chuyển nước ngoài lưu vực sông.

Bản thân Việt Nam cũng nhận định vấn đề chuyển nước sẽ đe dọa hạ du, vì nếu như thủy điện kết hợp chuyển nước hệ quả còn nguy hiểm hơn rất nhiều.

Nhìn về lưu vực sông Mê Kông thì mới thấy được chúng ta ở vị thế bất lợi, Thái Lan chiếm 18% dòng chảy, Campuchia chiếm 18%, VN chiếm 11%, thế nhưng 95% lượng dòng chảy của chúng ta lại từ nước ngoài về. Đặc biệt, Trung Quốc chiếm 50% dòng chảy vào mùa khô, nếu Trung Quốc hỗ trợ cho các nước thượng lưu chuyển nước vào mùa khô thì hệ quả khó lường.

“Hiện nay, chúng ta không có thế mạnh cả về kinh tế lẫn chính trị để có thể yêu cầu các nước không được xây dựng thủy điện, chuyển nước, trong khi hàng nghìn trạm bơm đang trực chờ dã chiến, nước bơm xuống bao nhiêu thì lấy bấy nhiêu.

Cho nên, chúng ta chuẩn bị phải đối diện với xâm nhập mặn, đa dạng hóa cây trồng, thúc đẩy hợp tác với các quốc gia khác”, ông Toàn nói.

Theo ông Toàn, trong tháng 4, tháng hạn nhất, lưu lượng nước sông Mekong về Việt Nam có thể mất 120 – 400m3/giây do các dự án chuyển nước trong khi lưu lượng nước mùa kiệt trung bình chỉ 1.000m3/giây.

Nếu chuyển nước ngoài lưu vực, thì nước về Tân Châu, Châu Đốc giảm 100-300m3/s, nếu tích nước sông nhánh, dòng chính giảm 800m3/s, đây mới là rủi ro nguy hiểm.

Cái khó của Việt Nam

Một vấn đề khác được các chuyên gia đề cập đến, đó chính là vai trò của Ủy hội sông Mê Kông Việt Nam.

Theo TS Nguyễn Hồng Toàn, hợp tác Mê Kông phải là hợp tác cùng thắng, chứ không thể là thua hay thắng. Nên thiết lập cơ chế hợp tác tích cực với Ủy hội sông Mê Kông và Ủy ban sông Mê Kông VN.

Phải có bước đột phá, tìm kiếm các đối tác, các viện khoa học, các trường. Chuyển nước chắc chắn sẽ xảy ra, từ trước đến nay, Ủy hội có nghiên cứu, nhưng các nghiên cứu chưa có sự phối hợp, vì thế cần có một cơ chế cụ thể, dựa trên nguyên tắc cùng chia sẻ lợi ích cùng nhau thì mới có hiệu quả.

Chính phủ Thái Lan đã dự kiến chi 1,8 tỷ USD để thực hiện kế hoạch chuyển nước sông Mekong.

Trong khi, TS Đào Trọng Tứ, Mạng lưới sông ngòi Việt Nam cho rằng, hiện nay Ủy ban Sông Mê Kông đang hoạt động có phần trầm lắng, cơ chế hợp tác với các nước láng giềng lỏng lẻo.

Cần phải được củng cố, mạnh mẽ hơn, tuy là nước hạ lưu nép vế về tài nguyên, nhưng không phải các nước thượng nguồn muốn làm gì thì làm, phải liên quan an ninh chung.

Đứng ở vai trò đi khảo sát thực tế, TS Nguyễn Nhân Quảng nhấn mạnh: “Ủy hội sông Mê Kông cần chủ động nắm bắt thông tin, yêu cầu các nước thành viên tuân thủ các quy định của Hiệp định Mê Kông trong thông báo, tham vấn đối với các dự án chuyển nước.

Tăng cường các thể chế hợp tác Mê Kông hiện tại hoặc nghiên cứu thành lập các thể chế liên kết để thúc đẩy hợp tác trong khu vực”.

Châu An

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: