PHẠM TÂY SƠN

TỔ QUỐC VIỆT NAM – DANH DỰ – ĐỒNG BÀO TRÊN HẾT Thông tin để khai trí và phát triển.

-TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN TRÊN VÙNG BIỂN ĐÔNG NAM Á (PHẦN 3)

Posted by phamtayson trên 14/07/2016


Lý Đăng Thạnh

13-7-2016

Tiếp theo (PHẦN 1) (PHẦN 2)

V – SỰ TẠO LẬP, DUY TRÌ VÀ TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN CƯƠNG VỰC TRÊN BIỂN ĐÔNG NAM Á TỪ NĂM 1975 ĐẾN NAY

71- Tình hình các nước kiểm soát các đảo trên quần đảo Trường Sa đến cuối năm 1988

Tình hình các nước kiểm soát các đảo, đá, bãi… trên quần đảo Trường Sa đến cuối năm 1988:

Việt Nam kiểm soát:

– Cụm Song Tử: Đá Nam, Đảo Song Tử Tây.

– Cụm Nam Yết: Đá Lớn, Đá Núi Thị,  Đảo Nam Yết, Đảo Sơn Ca.

– Cụm Sinh Tồn: Đá Cô Lin, Đá Len Đao, Đảo Sinh Tồn, Đảo Sinh Tồn Đông.

– Cụm Trường Sa: Đá Đông, Đá Lát, Đá Núi Le, Đảo Phan Vinh (Hòn Sập), Đá Tây, Đá Tiên Nữ, Đá Tốc Tan, Đảo Trường Sa, Đảo Trường Sa Đông.

– Cụm Thám Hiểm: Đá/Bãi Thuyền Chài, Đảo An Bang.

Philippines kiểm soát:

– Cụm Song Tử: Đảo Song Tử Đông.

– Cụm Thị Tứ: Đảo Thị Tứ.

– Cụm Loại Ta: Đá An Nhơn, Đá Cá Nhám, Đảo Bến Lạc, Đảo Loại Ta.

– Cụm Thám Hiểm: Đá Công Đo.

– Cụm Bình Nguyên: Bãi Cỏ Mây, Đảo Bình Nguyên, Đảo Vĩnh Viễn.

Trung Cộng kiểm soát:

– Cụm Thị Tứ: Đá Xu Bi.

– Cụm Nam Yết: Đá Chữ Thập, Đá Ga Ven.

– Cụm Sinh Tồn: Đá Gạc Ma, Đá Tư Nghĩa.

– Cụm Trường Sa: Đá Châu Viên.

– Cụm Bình Nguyên: Đá Vành Khăn.

Đài Loan kiểm soát: Cụm Nam Yết: Đảo Ba Bình.

Malaysia kiểm soát: Cụm Thám Hiểm: Bãi Thám Hiểm (Đá Gia Hội, Đá Gia Phú, Đá Sâu), Đá Én Ca, Đá Hoa Lau, Đá Kỳ Vân, Đá Sác Lốt, Đá Suối Cát, Đá Kiệu Ngựa.

Chưa rõ nước nào kiểm soát:

– Cụm Song Tử: Bãi Đinh Ba, Bãi Núi Cầu, Đá Bắc.

– Cụm Thị Tứ: Đá Cái Vung, Đá Hoài Ân, Đá Trâm Đức, Đá Tri Lễ, Đá Vĩnh Hảo.

– Cụm Loại Ta: Bãi Đường, Bãi Loại Ta Nam, Đá An Lão, Đá An Nhơn Bắc, Đá An Nhơn Nam, Đá Sa Huỳnh, Đá Tân Châu, Đảo Loại Ta Tây.

– Cụm Nam Yết: Bãi/Đá Bàn Than, Đá Đền Cây Cỏ, Đá Én Đất, Đá Nhỏ.

– Cụm Sinh Tồn: Đá An Bình, Đá Ba Đầu, Đá Bãi Khung, Đá Bia, Đá Bình Khê, Đá Bình Sơn, Đá Đức Hòa, Đá Ken Nan, Đá Nghĩa Hành, Đá Nhạn Gia, Đá Ninh Hòa, Đá Phúc Sĩ, Đá Sơn Hà, Đá Tam Trung, Đá Trà Khúc, Đá Văn Nguyên, Đá Vị Khê,

– Cụm Trường Sa: Bãi ngầm Chim Biển, Bãi ngầm Mỹ Hải, Bãi ngầm Nguyệt Xương, Đá Núi Cô, Đá Núi Mon, Đá Núi Trời.

– Cụm Thám Hiểm: Bãi Phù Mỹ, Bãi Trăng Khuyết, Bãi ngầm Khánh Hội, Bãi ngầm Ngũ Phụng, Bãi ngầm Tam Thanh, Đá Long Hải, Đá Lục Giang, Đá Thanh Kỳ, Đá Vĩnh Tường.

– Cụm Bình Nguyên: Bãi Cái Mép, Bãi Cỏ Rong, Bãi Đồ Bàn, Bãi Đồi Mồi, Bãi Đồng Cam, Bãi Đồng Giữa, Bãi Hải Yến, Bãi Hữu Độ, Bãi Na Khoai, Bãi Ôn Thủy, Bãi Rạch Lấp, Bãi Rạch Vang, Bãi Sa Bin, Bãi Suối Ngà, Bãi Thạch Sa, Bãi Tổ Muỗi, Bãi Vĩnh Tuy, Cụm/bãi cạn Nam (Đá Chà Và, Đá Tây Nam), Cụm/Bãi Đá Bắc (Đá Cỏ My, Đá Gò Già), Cụm/Bãi Hải Sâm (Đá Định Tường, Đá Hoa, Đá Hội Đức, Đá Ninh Cơ, Đá Triêm Đức), Cụm Hồ Tràm (Đá Ba Cờ, Đá Hợp Kim, Đá Khúc Giác, Đá Mỏ Vịt, Đá Trung Lễ), Đá Bồ Đề, Đá Đồng Thạnh, Đá Long Điền, Đá Phật Tự, Đá Suối Ngọc, Đá Vĩnh Hợp.

H1Tình hình kiểm soát quần đảo Spratly (Trường Sa) đến cuối năm 1988

72- Trung Cộng đặt bia chủ quyền trên các đảo (3-1-1989)

Ngày 3-1-1989, Trung Cộng đặt bia chủ quyền trên các đảo và bãi đá đã chiếm được từ tay Việt Cộng tại quần đảo Nam Sa (tức Spratly hay Trường Sa), gồm Bãi Loại Ta (Sha Zhou), Đá Chữ Thập (Yung Shu Jiao), Đá Châu Viên (Hua Yang Jiao), Đá Ga Ven (Nan Xun Jiao), Đá Ken Nam (Xi Xen Jiao), Đá Gạc Ma (Chi Gua Jiao), Đá Subi (Zhu Bi Dao), Đá Tư Nghĩa (Dong Mén Jiao, Đông Môn Tiêu).

73- Trung Cộng đòi chủ quyền bãi Vạn An và bãi Nhã (28-4-1989)

Ngày 28-4-1989, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Cộng tuyên bố ‘lên án Việt Cộng xâm phạm trái phép bãi Vạn An (tức Tư Chính) và bãi Nhã thuộc quần đảo Nam Sa (tức Spratly hay Trường Sa) để thành lập cụm kinh tế khoa học dịch vụ Vũng Tàu Côn Đảo’, và đòi Việt Cộng phải giao trả lại vì thuộc chủ quyền Trung Cộng. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Cộng tuyên bố phản bác lại và khẳng định vùng này nằm sâu trong thềm lục địa Việt Nam.

Ngày 14-8-1989, Chính phủ Việt Cộng quyết định thành lập Cụm Kinh tế khoa học dịch vụ trên vùng bãi ngầm Tư Chính, Huyền Trân, Quế Đường, Phúc Tần, Phúc Nguyên thuộc thềm lục địa Việt Nam.

74- Việt Cộng nỗ lực cải thiện bang giao với Trung Cộng (tháng 9-1989)

Năm 1989, quan hệ ngoại giao giữa Liên Xô và Trung Cộng được bình thường hóa, với chuyến thăm Bắc Kinh của tổng bí thư M. Gorbachev từ ngày 15 đến 18-5-1989. Ngày 4-6-1989, chánh quyền Trung Cộng ra lệnh tàn sát hàng ngàn sinh viên biểu tình đòi dân chủ ở Thiên An Môn.

Tháng 9-1989, tổng bí thư Đảng Việt Cộng Nguyễn Văn Linh, cố vấn Phạm Văn Đồng và chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười bí mật sang thăm Trung Cộng, để bình thường hóa quan hệ hữu nghị theo đúng chánh sách mới của Liên Xô. Tuy chấp nhận cải thiện bang giao, nhưng bí thư Quân ủy trung ương Đặng Tiểu Bình chỉ thị cho Bộ Chính trị Đảng Trung Cộng là ‘trở lại đồng chí, nhưng không thể là đồng minh’, không chịu trực tiếp tiếp kiến và không cho tiếp đãi phái đoàn Việt Cộng.

75- Hội thảo kỳ 1 về biển Đông Nam Á ở Bali (tháng 1-1990)

Từ năm 1990, một loạt những cuộc hội thảo về ‘quản lý tiềm năng xung đột’ trong vùng biển Đông Nam Á đã được tổ chức ở Indonesia dưới sự bảo trợ của Văn phòng Nghiên cứu và phát triển thuộc Bộ Ngoại vụ Indonesia. Đây là hội nghị phi chánh phủ do các viên chức chánh phủ tham dự, nhằm thăm dò các đường lối có thể dẫn đến sự hợp tác giữa các nước trong vùng biển Đông Nam Á để quản lý tài nguyên thiên nhiên trong khu vực. Các lần họp gồm: Hội thảo kỳ 1 về quản lý xung đột hàng hải trong vùng biển Đông Nam Á ở Bali tháng 1-1990; Hội thảo kỳ 2 tại Bandung tháng 6-1991; Hội thảo kỳ 3 tại Jogjakarta tháng 7-1992; Hội thảo kỳ 4 tại Surabaya tháng 8-1993; Hội thảo kỳ 5 tại Bukittinggi tháng 10-1994; Hội thảo kỳ 6 tại xx tháng 10-1995.

Một loạt các cuộc bàn thảo của Nhóm hành động kỹ thuật cũng được tổ chức, bao gồm Khảo sát khoa học về đại dương (tại Manila tháng 5-1993, tại Singapore 1994); Giám định tài nguyên (tại Jakarta tháng 7-1993); Bảo vệ môi trường biển (tại Trung Quốc tháng 5-1995); và Các vấn đề pháp lý (tại Phuket tháng 7-1995).

Hội thảo kỳ 1 về quản lý xung đột hàng hải trong vùng biển Đông Nam Á nhóm họp ở Bali tháng 1-1990.

76- Việt Cộng và Trung Cộng quyết định bình thường hóa quan hệ (1990)

Năm 1990, tại Hội nghị Thành Đô, lãnh đạo Việt Cộng và Trung Cộng quyết định bình thường hóa quan hệ đôi bên sau hơn mười năm công khai đối địch.

77- Trung Cộng đẩy mạnh kiểm soát vùng biển Trường Sa (tháng 3 và 4-1990)

Ngày 18-3-1990, Trung Cộng mở ‘chiến dịch’ cho hàng ngàn ngư thuyền có tàu chiến bảo vệ tràn xuống đánh cá ở vùng biển quần đảo Trường Sa.

Ngày 16-4-1990, Bộ Ngoại giao Việt Cộng gửi bản ghi nhớ cho Đại sứ quán Trung Cộng tại Hà Nội, phản đối việc Trung Cộng cho nhiều tàu quân sự, tàu khảo sát, tàu đánh cá đến hoạt động trong vùng biển Việt Nam tại quần đảo Trường Sa.

Ngày 28-4-1990, Bộ Ngoại giao Việt Cộng gửi công hàm cho Đại sứ quán Trung Cộng tại Hà Nội, phản đối việc Trung Cộng đã cho quân lính xâm chiếm bãi Én Đất trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

78- Trung Cộng dụ dỗ liên kết phát triển Nam Sa (13-8-1990)

Trong chuyến thăm Singapore và Philippines, ngày 13-8-1990, thủ tướng Trung Cộng Lý Bằng tuyên bố tại Singapore rằng: Trung Quốc đã chuẩn bị xếp lại những vấn đề tranh chấp về chủ quyền và sẽ liên kết phát triển vùng quần đảo Nam Sa, muốn gác lại vấn đề gây trở ngại chánh và dựng lên một khung cảnh mới để giải quyết những vấn đề trong vùng, các bên thông qua hiệp thương hữu nghị sẽ giải quyết vấn đề Nam Sa vào lúc thích hợp.

Tuyên bố này ngay lập tức bị các nước Philippines, Malaysia, Brunei bác bỏ.

Về phía Việt Cộng, một là do đang theo Liên Xô đối đầu với Trung Cộng, hai là do quá rõ dã tâm của họ và nhất là còn căm hận sau sự kiện bị chiếm 7 đảo tháng 3-1988 nên cũng cực lực phản đối. Các nước không thể chấp nhận với những điều kiện đề nghị liên kết của Trung Cộng cũng là điều dễ hiểu. Qua việc liên kết phát triển, Trung Cộng hầu như có ý định khai thác toàn bộ vùng biển Nam Hải (tức Asean), bao gồm dầu khí trên thềm lục địa của các nước khác, và chỉ nhờ vậy mà chủ quyền của Trung Cộng trên toàn bộ khu vực biển đương nhiên được nhìn nhận. Thật vậy, ý niệm liên kết phát triển của Trung Cộng có vẻ như là một sự tham gia của các bên nước ngoài vào việc phát triển tài nguyên của Trung Quốc – đối lập với cách thức góp chung vào các quyền lợi tài nguyên trong vùng tranh chấp, vốn là một kiểu mang tánh cách qui ước hơn trong thể thức liên kết phát triển.

Tiếc rằng ‘tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa’, đến năm 2000 trong tình cảnh khốn quẫn, Việt Cộng lại phải chấp nhận ký với Trung Cộng bản hiệp định hợp tác khai thác vùng vịnh Bắc Bộ, để cho Trung Cộng có dịp cho hải quân và ngư dân tha hồ hoành hành và công khai tạo lập chủ quyền trên hầu như toàn thể vùng vịnh Bắc Bộ.

79- Hoạt động của Malaysia và Philippines trên quần đảo Spratly (1991)

Do luật biển UNCLOS quy định rằng, nếu mỏm đá ngoài biển khơi nào không thích hợp được cho con người cư ngụ, hoặc không hỗ trợ được cho đời sống kinh tế thì không có quyền đòi hỏi về vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) hay thềm lục địa, vì thế các nước đều ra sức biến những đảo mình đang chiếm đóng thành nơi có người ở và hoạt động kinh tế.

Năm 1991, Malaysia loan báo rằng vừa xây trong rặng đá ngầm Swallow (tức Terembu Layang Layang) bị họ chiếm giữ trước đây một khu nghĩ dưỡng du lịch có một khách sạn và một sân bay nhỏ. Đồng thời Malaysia đang cố gắng mở mang hòn đảo thành một ngư cảng phục vụ khai thác khu vực lãnh hải mà mình yêu sách.

Ngay sau đó, Philippines cũng khẳng định việc phát triển du lịch trên đảo Pagasa mình đang chiếm giữ.

80- Hoạt động Việt Cộng ở đảo Trường Sa (7-1991)

Tháng 7-1991, Việt Cộng thành lập một trạm nghiên cứu hải dương tại đảo Trường Sa, tuy nhiên có sự phản đối của Trung Cộng nên trạm này không được quốc tế thừa nhận. Trạm này tiếp tục hoạt động phục vụ cho nhu cầu của riêng Việt Nam.

81- Đài Loan đòi chủ quyền quần đảo Spratly (7-1991)

Tháng 7-1991, Đài Loan tái khẳng định yêu sách chủ quyền trên toàn bộ quần đảo Spratly. Đài Loan ban bố hai đạo luật: Luật về lãnh hải và Luật về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

82- Hội nghị Bandung (7-1991)

Tháng 6-1991, Indonesia đăng cai tổ chức Hội thảo kỳ 2 về quản lý xung đột hàng hải trong vùng biển Đông Nam Á nhóm họp tại Bandung.

Tháng 7-1991, Indonesia lại đăng cai một hội nghị quốc tế ở Bandung bàn thảo về các vấn đề trên biển Đông Nam Á. Tham dự gồm viên chức Bộ Ngoại giao và viện sĩ 6 nước ASEAN, cùng với Việt Cộng, Trung cộng, Đài Loan và Lào.

Nổi bật trong cuộc hội thảo, cả Trung Cộng lẫn Đài Loan đều cùng nêu một yêu sách đòi chủ quyền gần hết vùng biển Asean, và cùng một lý lẽ căn cứ vào lịch sử giống nhau. Mặc dù yêu sách của họ dựa trên căn cứ ‘có sự thám hiểm từ xa xưa và đã khống chế vùng này’, song phiên bản hiện đại lại bắt nguồn từ mốc năm 1947. Yêu sách này thường được kèm theo một bản đồ cho thấy đường yêu sách lịch sử hình chữ U hay hình Lưỡi bò có từ 9 đến 11 vạch, bao trùm nhiều phần thềm lục địa và luôn cả các vùng mỏ dầu khí mới tìm được sau này và đang khai thác của các nước ASEAN.

Kết thúc hội nghị, các bên ra một bản tuyên bố chung, trong đó các bên tham dự được đề nghị khuyến cáo lại chánh phủ nước mình là: Không nên dùng võ lực để dàn xếp các tranh chấp về lãnh thổ và quyền tài phán; nơi nào có xảy ra xung đột về yêu sách, các nước nên nghiên cứu khả năng đảm nhận hợp tác vì lợi ích đôi bên, trong đó có việc liên kết phát triển; Phải tự kiềm chế để không làm phức tạp thêm tình thế tranh chấp yêu sách.

Tuy nhiên ngay sau đó, Trung Cộng liền tăng cường sức mạnh hải quân và không quân tại vùng biển Asean, mua quyền sở hữu kỹ thuật tiếp liệu trên không của Mỹ, thương lượng mua một hàng không mẫu hạm của Ukraine, thông qua Luật về lãnh hải và các miền tiếp giáp nhằm chánh thức hóa và hợp nhất với yêu sách về chủ quyền trên quần đảo Tây Sa (tức Paracel hay Hoàng Sa) và Nam Sa (Spratly hay Trường Sa). Trung Cộng cũng cấp nhượng quyền khai thác dầu khí cho Công ty Crestone của Mỹ tại giếng dầu Wanan Bei thuộc vùng bờ đá Vanguard nằm trong thềm lục địa Việt Nam, và cam kết sẽ cho hải quân trực tiếp bảo vệ cho công ty Mỹ trong khi khai thác.

83- Quan hệ Trung Cộng – Việt Cộng chánh thức bình thường hóa (10-11-1991)

Cả thế giới chứng kiến sự tan rã của hệ thống cộng sản Liên Xô và Đông Âu từ cuối thập niên 1980.

Tháng 8-1991, chế độ cộng sản Liên Xô sụp đổ. Mất hậu thuẫn của Liên Xô, giới lãnh đạo chóp bu Việt Cộng từ đây ‘hoảng sợ thật sự, tìm bám vào bất cứ cái vì vơ được trong cơn lũ cuốn của tuyệt vọng’. Họ đã bám vào cái phao ‘anh cả Trung Cộng’ với sự ngây thơ ngu ngốc tin rằng ‘hoàn cảnh cùng hội cùng thuyền của lân quốc cùng hệ thống tư tưởng cộng sản còn sót lại ngày nay’ sẽ giúp đàn anh Trung Cộng quên đi những phản trắc trước đây của thằng em Việt Cộng láu cá. Nhưng Trung Cộng đã nói thẳng: Cho làm đồng chí nhưng không còn là đồng minh như trước. Và Việt Cộng phải liên tiếp đánh đổi cơ hội tồn tại ký sinh của mình trong lòng chế độ cộng sản quốc tế dẫy chết với cái giá là ‘phải dâng nộp lãnh thổ, lãnh hải, đất đai, hải đảo cho Trung Cộng’.

Ngày 12-9-1991, bộ trưởng Ngoại giao Việt Cộng và Trung Cộng gặp nhau để bàn việc khôi phục quan hệ giữa hai nước và việc góp phần giải quyết chính trị toàn diện vấn đề Cambodia và những vấn đề quốc tế hai bên quan tâm.

Ngày 5-11-1991, Đoàn đại biểu cấp cao Việt Cộng do tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười, cố vấn Phạm Văn Đồng dẫn đầu, đã sang Nam Ninh hội đàm với tổng bí thư Trung Cộng Giang Trạch Dân và thủ tướng Lý Bằng, để khôi phục lại mối quan hệ đồng chí cũ trước tình hình chủ nghĩa cộng sản vừa bị sụp đổ tại Liên Xô và Đông Âu. Từ đó, mọi đường lối chánh sách của Việt Cộng đều quay trở lại rập khuôn theo Trung Cộng như trước đây, từ chánh trị, luật pháp, quân sự, an ninh, đối ngoại, tổ chức hành chánh, kinh tế, tài chánh, xã hội, văn hóa, giáo dục, y tế, thể thao, v.v… tất cả mọi lãnh vực đều quán triệt và học tập theo ‘kinh nghiệm và mô hình mẫu mực của đồng chí Trung Quốc anh em’.

Ngày 10-11-1991 tại Bắc Kinh, các nhà lãnh đạo Việt Cộng và Trung Cộng ký Thông báo chung về bình thường hóa quan hệ giữa hai nước. Hai bên tuyên bố sẽ phát triển quan hệ hữu nghị và láng giềng thân thiện, trên cơ sở 5 nguyên tắc: tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi và cùng tồn tại hòa bình. Hai bên đồng ý thông qua thương lượng giải quyết hòa bình vấn đề lãnh thổ, biên giới… tồn tại giữa hai nước.

84- Lực lượng kháng chiến Cambodia ra yêu sách với Việt Cộng

Theo chân Trung Cộng, Cambodia cũng lớn tiếng đòi Việt Cộng phải trả lãnh thổ. Năm 1991, bốn phe Liên hiệp kháng chiến Cambodia lớn tiếng đòi đuổi hết một triệu người Việt đang định cư ở Cambodia về nước, đòi chủ quyền đảo Thổ Châu, đòi xác định lại biên giới vì cho rằng ‘Việt Cộng đã lấn vào lãnh thổ Cambodia 50 cây số’.

85- Việt Cộng công bố sách trắng về Hoàng Sa và Trường Sa (18-1-1992)

Ngày 18-1-1992, Bộ Ngoại giao Việt Cộng công bố sách trắng nhan đề Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, lãnh thổ của Việt Nam.

86- Chánh sách của Trung Cộng ở biển Đông Nam Á (1992)

Sau cuộc khủng hoảng tại quảng trường Thiên An Môn năm 1989, Quân đội Giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) có thêm nhiều quyền uy. Sau khi Đặng Tiểu Bình chết, các lãnh tụ Trung Cộng công khai tranh giành quyền lực, mà điều mấu chốt nhất là nắm cho được quân đội. Cho rằng mở rộng được thế lực ở vùng biển phía nam sẽ giúp củng cố quyền lực, các lãnh tụ Trung Cộng vừa tăng thêm ngân sách quốc phòng vừa liên tục biểu dương sức mạnh trong vùng biển Asean.

Đồng thời với sự tăng trưởng nhanh về kinh tế nhiều năm liên tục, nhu cầu tiêu thụ năng lượng của Trung Cộng cũng tăng vọt tương ứng. Vì thế, Trung Cộng phải tìm mọi cách tăng nguồn cung ứng dầu khí, và càng quyết tâm độc chiếm biển Đông Nam Á để mong sở hữu tiềm năng dầu khí có thể rất lớn tại đây.

Việc gia tăng tìm kiếm năng lượng một cách tuyệt vọng đã buộc Trung Cộng phải từ bỏ ý định ban đầu của mình là chỉ làm việc với hai công ty ngoại quốc trong vùng giếng Tarim, để yêu cầu họ khẩn cấp tìm thêm những giếng dầu mới.

Trung Cộng không ngừng phàn nàn là ‘các nước đang có yêu sách chủ quyền khác trong biển Nam Hải đã đơn phương khai thác dầu khí trong lãnh địa Trung Quốc nhiều năm qua’. Đại diện chánh thức của Trung Cộng nói ‘các nước đang bảo trợ khai thác trong vùng biển lịch sử của Trung Quốc 120 giếng dầu với sản lượng hơn 1 triệu tấn mỗi năm’. Trên tạp chí American Asian Review, tập 12, số 4 xuất bản mùa đông 1994, có bài Oil and the South China Sea: prospects for joint development của Alice D. Ba, trong đó có đoạn: ‘Quân Giải phóng nhân dân cho rằng trong lúc Trung Quốc chưa có khả năng khai thác dầu ở vùng biển Nam Hải, thì các nước có quân đội yếu hơn đã lợi dụng sự nhẫn nhịn chịu đựng và kềm chế của Trung Quốc để lẵng lặng lấy cắp dầu mỏ của Trung Quốc’.

Nhiều nhà quan sát quốc tế có chung nhận định rằng Trung Quốc đông hàng tỉ dân, mỗi tỉnh có hàng chục triệu dân, thậm chí nhiều tỉnh đông cả trăm triệu dân, đông hơn rất nhiều nước lớn khác trên thế giới, vì thế các địa phương Trung Cộng có khuynh hướng phân rã rất mạnh để trở thành những lãnh thổ tự trị, nếu không muốn nói là độc lập hoàn toàn để có cơ may phát triển nhanh hơn. Vùng Đài Loan độc lập và Hongkong – Macau tự trị cũng thường xuyên là những nhân tố đe dọa sự thống trị tập quyền của Đảng Trung Cộng.

Trong bài Trung Quốc và các tranh chấp vùng biển Nam Trung Hoa của Mark J. Valencia (Oxford University Press 1995) có đoạn viết: Những nhà quan sát khác không lạc quan gì về những ý đồ của Trung Quốc. Họ cho rằng Trung Quốc rất sợ sự phân rã và đã quyết tâm siết chặt biên giới của mình, kiểm soát chặt chẽ những vùng mình đòi hỏi như là một phần của động cơ phục hồi lãnh thổ nhằm tái lập một nước Trung Hoa vĩ đại hơn và khôi phục vai trò truyền thống năm xưa là thống trị châu Á. Theo học thuyết này, Trung Quốc muốn lập nên một vành đai bảo vệ trên biển bao quanh mình và đã dấn thân vào một chiến dịch xăng xái để sở hữu và phát triển các loại võ khí qui ước để cho phép mình khẳng định quyền kiểm soát các đảo, và cuối cùng là toàn bộ vùng biển Nam Trung Hoa hay ngay cả vùng Đông Nam Á. Trong quan điểm này, vấn đề của Trung Quốc là đòi lãnh thổ và gỡ bỏ những hệ quả của thời kỳ phương Tây chiếm đóng để lại đã chia cắt các phần lãnh thổ mà họ xem đúng ra phải thuộc về Trung Quốc. Do đó, Trung Quốc phải ‘thu hồi phần lãnh thổ bị thất lạc’ ngay khi có thể; ra sức tuyên truyền rằng việc chiếm ngụ các đảo như một sự giải phóng đất đai bị mất chứ không phải là xâm lăng hay bành trướng lãnh thổ. Chiến lược này cũng sẽ bao gồm tiềm năng ngăn chặn các lực lượng hải quân đối địch trong khu vực như Ấn Độ hay Nhật Bản tiếp cận các bến cảng phía nam Trung Quốc cũng như kiểm soát các tuyến hàng hải và điểm xung yếu như eo biển Malacca, từ đó nâng cao sức mạnh và ảnh hưởng của Trung Quốc. (…) Yêu sách của Trung Quốc (và của cả Đài Loan) về gần như toàn bộ vùng biển Nam Trung Hoa căn cứ vào lịch sử mà họ diễn dịch thì không thể nào phù hợp với luật quốc tế hiện đại hoặc Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (UNCLOS) và đang bị gia tăng chỉ trích thậm chí nhạo báng. Nếu Trung Quốc tiếp tục theo đuổi yêu sách của mình một cách xông xáo và cứng nhắc, thì lại càng dấy lên nhiều vấn đề cơ bản thuộc công pháp quốc tế khi ủng hộ cho Trung Quốc nói chung, cả về nền tảng tư cách của Trung Quốc trong các mối quan hệ quốc tế.

87- Trung Cộng thông qua Luật lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải (25-2-1992)

Ngày 12-2-1992, bộ trưởng Ngoại giao Trung Cộng Tiền Kỳ Tham sang thăm Việt Cộng bàn về các quan hệ song phương.

Ngày 25-2-1992, Quốc hội Trung Cộng thông qua ‘Luật lãnh hải và vùng tiếp giáp’, trong đó yêu sách chủ quyền khoảng bốn phần năm diện tích Biển Đông Nam Á. Theo luật này, thì lãnh hải Trung Cộng rộng 12 hải lý áp dụng cho cả 4 quần đảo ở Biển Đông Nam Á là Đông Sa, Trung Sa, Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa).

Ngay sau đó, Trung Cộng ký hợp đồng khai thác dầu khí với Công ty năng lượng Crestone của Mỹ, cho phép Công ty này thăm dò khai thác dầu khí một lô trong khu vực mà Trung Cộng gọi là Vạn An Bắc 21, cách đảo Hải Nam hơn 600 dặm về phía nam, nằm trên thềm lục địa phía tây nam quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.

88- Quan hệ Việt Cộng – Trung Cộng (tháng 4-1992)

Ngày 1-4-1992, chánh thức mở lại cửa khẩu Hữu Nghị trên biên giới Việt Nam – Trung Quốc, thông xe công vụ tuyến đường sắt từ Lạng Sơn qua Đồng Đăng tới biên giới Việt-Trung.

Ngày 23-4-1992, Ban Dân vận trung ương Việt Cộng tổ chức hội nghị về công tác người Hoa ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.

89- Thái độ của Việt Cộng và Trung Cộng về Biển Đông Nam Á (tháng 5 và 6-1992)

Ngày 8-5-1992, Trung Cộng ký hợp đồng khai thác dầu khí với công ty năng lượng Crestone của Mỹ, cho phép công ty này thăm dò khai thác dầu khí tại một lô 225,255 km2 trong khu vực Trung Cộng gọi là Vạn An Bắc 21 (Vanguard Bank) nằm trong thềm lục địa Việt Nam, nằm ở phía tây nam quần đảo Spratly (tức Trường Sa), cách đảo Hải Nam hơn 1.000 cây số về phía nam.

Ngày 16-5-1992, Bộ Ngoại giao Việt Cộng gửi công hàm phản đối Trung Cộng về sự việc trên, đồng thời khẳng định ‘khu vực này chính là bãi Tư Chính nằm hẳn trong thềm lục địa Việt Nam, và yêu cầu phải ngừng ngay lập tức các hoạt động thăm dò khai thác dầu khí của Trung Quốc tại đây‘.

Ngày 17-5-1992, phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Việt Cộng tuyên bố ‘phản đối hợp đồng giữa Trung Cộng và Công ty Crestone thăm dò khai thác dầu khí trên thềm lục địa Việt Nam’.

Tuy nhiên ngày 20-5-1992, phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Trung Cộng tuyên bố bác bỏ, đồng thời Trung Cộng cho nhiều tàu chiến đến bảo vệ khu vực Vạn An Bắc 21 và xua đuổi tất cả tàu Việt Cộng ra xa. Ngày 1-6-1992, phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Trung Cộng lại lớn tiếng tuyên bố đòi chủ quyền cả quần đảo Nam Sa (tức Trường Sa của Việt Nam) và khẳng định tiếp tục cùng với công ty Crestone thăm dò và khai thác dầu khí tại đây.

90- Tranh chấp tại vùng vịnh Bắc Bộ (tháng 6-1992)

Tháng 6-1992, Trung Cộng bất ngờ đưa một tàu khoan dầu đến hoạt động tại một vị trí ở giữa đảo Bạch Long Vĩ và cửa Ba Lạt, chỉ cách bờ biển tỉnh Thái Bình khoảng 60 cây số. Chánh quyền Việt Cộng phản đối kịch liệt và cho hải quân đến xua đuổi. Trung Cộng cũng mở chiến dịch tuyên truyền là họ ‘đang thăm dò nghiên cứu khoa học trong lãnh hải của mình’ và đưa 2 tàu chiến đến bảo vệ. Tuy nhiên đôi bên đều thận trọng không gây ra xung đột quân sự. Trung Cộng lên tiếng yêu cầu song phương đàm phán và Việt Cộng chấp nhận.

Hai bên bắt đầu đàm phán tại Hà Nội về quy chế phân định vịnh Bắc Bộ. Việt Cộng yêu sách ‘một cách lớt lát’ là đường phân vịnh như hiệp ước Pháp – Thanh 1887, nhưng Trung Cộng bác bỏ, cho đó là tàn tích thời thực dân đế quốc gây ra bất công vô lý cho Trung Quốc và yêu sách vùng biển 200 hải lý phía tây bờ biển bán đảo Lôi Châu và đảo Hải Nam, tức chiếm gần hết vịnh Bắc Bộ. Cuộc đàm phán nhanh chóng bế tắc.

91- Các nước ASEAN tăng cường binh lực (tháng 6-1992)

Để đối phó với hiểm họa Việt Cộng và sự tăng cường hiện diện của Trung Cộng xuống vùng biển Asean, các nước ASEAN đã tiếp tục nỗ lực tăng cường khả năng phòng vệ.

Malaysia và Singapore đã ký với Anh hiệp ước phòng vệ; Philippines ký với Mỹ, Úc và Tân Tây Lan. Phi mua thêm 3 tàu tuần tiễu loại mới có gắn hỏa tiễn Exocet. Malaysia mua 30 máy bay MiG29 của Nga và một số tàu tuần tiễu.

92- Hội thảo kỳ 3 về biển Đông Nam Á tại Jogjakarta (tháng 7-1992)

Tháng 7-1992, Indonesia đăng cai cuộc hội thảo kỳ 3 về ‘quản lý xung đột hàng hải trong vùng biển Đông Nam Á’, nhóm họp tại Jogjakarta. Tham dự họp gồm 6 nước ASEAN, Việt Cộng, Trung Cộng, Đài Loan và Lào. Các cuộc thảo luận tại Jogjakarta rất cởi mở, nhưng đến cuối hội nghị vẫn không tìm được tiếng nói chung cơ bản. Các bên tham gia nhất trí sẽ dự cuộc gặp tiếp theo về kỹ thuật khảo sát khoa học đầu tháng 6-1993 tại Manila, Philippines.

93- Hội nghị các ngoại trưởng ASEAN (tháng 7-1992)

Tại Hội nghị các ngoại trưởng Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) tại Manila tháng 7-1992, các đại biểu các nước đều bày tỏ lo lắng về tình hình an ninh của Biển Đông Nam Á và trao đổi ý kiến về sự hợp tác trong khu vực. Đó là hai vấn đề lớn nổi bật: vấn đề tranh chấp chủ quyền lãnh thổ và vấn đề hợp tác trước hết là về khai thác tài nguyên. Các đại biểu đều cho rằng nếu không giải quyết được vấn để chủ quyền thì khó mà giải quyết được vấn đề hợp tác khai thác tài nguyên. Trong vấn đề tranh chấp chủ quyền, phức tạp là vấn đề hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa giữa Việt Cộng và Trung Cộng.

94- Hoạt động của Trung Cộng tại biển Đông Nam Á (tháng 7-1992)

Vừa rời cuộc họp tại Jogjakarta về, Trung Cộng đã gởi thêm quân bổ sung đến 6 hòn đảo đã chiếm của Việt Nam và cho quân dựng cột mốc chủ quyền trên rặng đá ngầm Đá Lát nằm gần nhất khu vực nhượng quyền cho công ty Crestone của Mỹ.

95- Tổ chức ASEAN ra Tuyên bố về Biển Đông Nam Á (22-7-1992)

Với những hành động đơn phương gây hấn hết nước này đến nước khác của Trung Cộng, và việc thiếu những tiến bộ đáng kể tại hội nghị Jogjakarta tháng 6-1995, vấn đề quần đảo Spratly được đặt lên hàng đầu trong kịch trình hội nghị ngoại trưởng ASEAN tháng 7-1992 và tại cuộc nhóm họp cựu bộ trưởng ASEAN + 4.

Ngày 22-7-2002, Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao các nước ASEAN (Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan) nhóm họp tại Manila, Philippines, đã đưa ra một tuyên bố chánh thức chưa từng có trước đây về an ninh khu vực, gọi là ‘Tuyên bố của ASEAN về biển Nam Trung Hoa’. Trong đó ‘thúc giục mọi nước có yêu sách phải dàn xếp tranh chấp một cách hòa bình, kiềm chế không làm căng thẳng thêm tình hình, khuyến nghị các bên liên quan áp dụng các nguyên tắc của Hiệp ước Thân thiện và hợp tác tại Đông Nam Á (TAC) để làm cơ sở xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC)’ và kêu gọi ‘sự hợp tác trong khu vực nhằm tiến đến đảm bảo an toàn giao thông liên lạc, ngăn ngừa ô nhiễm, hợp tác tìm kiếm cứu nạn, chống hải tặc và buôn lậu ma túy’.

Lần đầu tiên tham dự hội nghị này, ngoại trưởng Việt Cộng Nguyễn Mạnh Cầm đã ký tên tham gia vào Hiệp ước thân thiện và hợp tác ASEAN (TAC). Việt Cộng cũng tuyên bố ủng hộ Tuyên bố ASEAN trong khi tại Bắc Kinh, trong khi Trung Cộng vẫn im lặng.

96- Hội nghị cựu ngoại trưởng ASEAN + 4 (tháng 7-1992)

Trong mùa xuân và mùa hè 1992, sáu nước ASEAN và nhất là các nước có yêu sách chủ quyền tại quần đảo Spratly (tức Trường Sa) đều đồng loạt chỉ trích hành động của Trung Cộng gây hấn và xâm chiếm thêm các đảo tại quần đảo Spratly. Thấy vậy, Trung Cộng liền đề nghị mở các cuộc họp song phương với những nước vừa bị chiếm đảo và cam kết ‘không tiếp tục sử dụng võ lực trong tranh chấp nữa’.

Tại cuộc họp các cựu ngoại trưởng ASEAN – Mỹ – Nhật – Nga – Trung Cộng, phía Mỹ hoan nghênh tuyên bố của Hội nghị ngoại trưởng ASEAN về vấn đề biển Asean và bày tỏ ‘được góp phần hỗ trợ bằng bất kỳ cách nào mà các bên thấy là có ích’. Mỹ cũng đã thông báo cho các công ty Mỹ về các yêu sách chủ quyền còn đang tranh chấp và nguy cơ của việc ký hợp đồng thăm dò và khai thác tại vùng có tranh chấp trước khi các bên tranh chấp đạt được một hiệp ước về khai thác.

97- Việt Cộng ký Hiệp ước TAC (22-7-1992)

Ngày 22-7-1992, tại Hội nghị Ngoại trưởng lần 25 các nước ASEAN, Việt Cộng và Lào Cộng cùng chánh thức tham gia Hiệp ước Thân thiện và hợp tác Đông Nam Á (Hiệp ước Bali, hay TAC) và trở thành quan sát viên của ASEAN.

Trong giai đoạn này, các nước ASEAN cũng muốn hòa hoãn với Việt Cộng để duy trì hòa bình và ổn định, nên quan hệ Việt Cộng – ASEAN lần hồi phát triển mạnh cả trong quan hệ đa phương và song phương. Buôn bán, đầu tư và trao đổi các cấp đều tăng. Kim ngạch thương mại Việt Cộng – ASEAN từ 107 triệu USD năm 1985 đã tăng lên 1,73 tỉ USD vào năm 1992.

Từ năm 1992, Việt Cộng được mời tham gia Cuộc họp thường niên ngoại trưởng ASEAN (AMM).

98- Cấp phép nhượng quyền dầu khí ở biển Đông Nam Á (đến tháng 8-1992)

Cấp phép nhượng quyền về dầu khí trong vùng biển tranh chấp là điều bình thường nhưng cũng là một phương sách khiêu khích mà các quốc gia yêu sách dùng để chứng tỏ quyền tài phán của mình. Tuy nhiên, hợp đồng này có điều kiện là người được nhượng quyền đang trực tiếp thực hiện phải ngưng lại chờ giải quyết khi có va chạm tranh chấp chủ quyền.

Trong thập niên 1970s và đầu 1980s, các công ty AMOCO, Selen và Công ty Phát triển dầu khí Philippines đã khoan nhiều giếng trên bờ đá Reed với sự cấp phép nhượng quyền của Philippines.

Tháng 8-1992, Công ty dầu khí Kirkland đã nhận được hợp đồng thăm dò và khảo sát địa vật lý từ Chánh phủ Philippines lô biển khoảng 15.500 km2, gồm hầu hết bờ đá Reed, và công tác khảo sát địa chấn đã hoàn thành vào tháng 6-1995.

Cũng trong năm 1992, Trung Cộng đã khoan được giếng dầu Nanyang 1 trên rặng đá ngầm Fiery Cross. Một hợp đồng nhượng quyền do Trung Cộng cấp cho công ty Mỹ Crestone Energy Corporation, có lịch trình công tác rõ ràng với các công đoạn như  khảo sát địa chấn mà việc này là đòi hỏi phải có cơ sở vật chất chiếm đóng trên khu vực nhượng quyền, và công ty Mỹ đã công bố kế hoạch khoan giếng. Phát hiện được việc này, Bộ Ngoại giao Việt Cộng lập tức lên tiếng phản đối hành động của Trung Cộng, và toan tính khoan giếng trước một bước trước tiên trong lô nói trên. Đến phiên Trung Cộng lên tiếng phản đối trở lại, đồng thời phát động tiếp một chiến dịch tuyên truyền về chủ quyền của họ trên quần đảo Nam Sa (Spratly).

99- Hoạt động Trung Cộng ở quần đảo Spratly (tháng 8-1992)

Tháng 8-1992, Trung Cộng thành lập một trạm quan trắc thời tiết trên một đảo tại quần đảo Spratly, và tuyên bố làm theo sự bảo trợ của Tổ chức khí tượng thế giới. Tuy nhiên, có sự phản đối của các nước trong vùng, nên tổ chức KTTT đã tuyên bố từ chối việc cho phép lắp đặt trạm này. Cùng lúc đó, Trung Cộng cũng đưa ra lời mời thực hiện các cuộc phối hợp khảo sát khoa học với các nước có yêu sách về chủ quyền khác bằng tàu Trung Cộng ở vùng biển yêu sách của các nước này, với thâm ý nhằm khẳng định chủ quyền của Trung Cộng. Tuy nhiên ý định này đã bị các nước trong vùng bác bỏ.

100- Yêu sách lãnh hải của Trung Cộng (tháng 9-1992)

Năm 1992, Quốc hội Việt Cộng thay đổi Hiến pháp, trong đó bãi bỏ đoạn văn xác định Trung Quốc là ‘kẻ thù nguy hiểm bá quyền phương bắc’.

Tháng 9-1992, Trung Cộng lại cho tàu khoan thăm dò tìm dầu trong vùng biển vịnh Bắc Bộ thuộc phía Việt Nam.

Cũng trong tháng 9-1992, Quốc hội Trung Cộng cho phổ biến một bản đồ chánh thức của nước này, trong đó hải phận Trung Quốc chạy dọc suốt bờ biển Việt Nam, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Brunei và Philippines, theo một hình thù giống như lưỡi bò.

101- Thứ trưởng Nguyễn Mạnh Cầm giải thích về Công hàm 14-9-1958 (2-12-1992)

Trong bài viết ‘Saigon – Hanoi – Paracels Islands Dispute – 1974‘, đăng trên Far Eastern Economic Review Reference (Vol. 157, No. 6, 10 Feb 1994), tác giả Frank Ching viết:

…Như Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm đã thú nhận: ‘Các nhà lãnh đạo của chúng tôi đã có tuyên bố lúc trước về Hoàng Sa và Trường Sa dựa trên tinh thần sau: Lúc đó, theo Hiệp định Geneve 1954 về Đông Dương, các lãnh thổ từ vĩ tuyến 17 về phía nam, bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là đặt dưới sự kiểm soát của chính quyền miền Nam. Hơn nữa, Việt Nam đã phải tập trung tất cả các lực lượng quân sự cho mục tiêu cao nhất để chống lại cuộc chiến tranh hung hãn của Mỹ, nhằm bảo vệ nền độc lập quốc gia. Việt Nam đã phải kêu gọi sự ủng hộ của bè bạn trên toàn thế giới. Đồng thời, tình hữu nghị Trung-Việt rất thân cận và hai nước tin tưởng lẫn nhau. Đối với Việt Nam, Trung Quốc đã là một sự ủng hộ rất vĩ đại và trợ giúp vô giá. Trong tinh thần đó và bắt nguồn từ những đòi hỏi nêu trên, tuyên bố của các nhà lãnh đạo của chúng tôi (ủng hộ Trung Quốc trong việc tuyên bố chủ quyền của họ trên Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa) là cần thiết vì nó trực tiếp phục vụ cho sự đấu tranh bảo vệ độc lập và tự do cho tổ quốc .

Đặc biệt thêm nữa là cái tuyên bố đó đã nhắm vào sự đòi hỏi cần thiết lúc bấy giờ để ngăn ngừa bọn tư bản Mỹ dùng những hải đảo này để tấn công chúng tôi. Nó không có dính dáng gì đến nền tảng lịch sử và pháp lý trong chủ quyền của Việt Nam về hai quần đảo Hoàng Sa Và Trường Sa (tuyên bố trong buổi họp báo tại Hà Nội ngày 2-12-1992, được loan tải bởi Thông Tấn Xã Việt Nam ngày 3-12-1992).

102- Trung Cộng tăng cường binh lực tại biển Đông Nam Á (tháng 12-1992)

Trong tháng 12-1992, lập trường sáu nước ASEAN (Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan) theo Tuyên bố của ASEAN về biển Đông Nam Á được đưa vào văn kiện cuối cùng của Uỷ ban Chánh trị Phong trào Không liên kết, bất chấp sự phản đối của Trung Cộng.

Để trả đủa, Trung Cộng bèn tái triển khai ba tàu ngầm quy ước kiểu Romeo từ Hạm đội Bắc Hải về tuần tra lòng vòng liên tục trong khu vực tranh chấp tại biển Đông Nam Á. Mặc dù ngay sau đó, Trung Cộng lại đưa ra đề nghị xếp qua một bên vấn đề chủ quyền để liên kết phát triển, đặc biệt là với Malysia và Philippines, nhưng những lời dụ dỗ này vẫn không được ai quan tâm. Nguyên nhân là vì ngoài hành vi khiêu khích ngang ngược, Trung Cộng vẫn tiếp tục ‘từ chối giảm nhẹ các đòi hỏi quá đáng và vô lý của mình trong khu vực trong khi chẳng thèm quan tâm tính hợp pháp, hợp lý trong yêu sách của các nước khác’.

103- Năm nguyên tắc chung sống hòa bình của Trung Cộng (tháng 12-1992)

Tháng 12-1992, Trung Cộng tuyên bố khẳng định nguyên tắc của Trung Quốc đối với bất kỳ tiến trình an ninh đa phương nào là mọi quốc gia phải được đối xử bình đẳng trên cơ sở năm nguyên tắc chung sống hòa bình: 1- không quốc gia nào được xen vào công việc nội bộ của quốc gia khác; 2- việc giải giới và kiểm soát võ khí phải được tiến hành theo phương cách công bằng và hợp lý; 3- phải nỗ lực chấm dứt chạy đua võ trang và ngăn ngừa phát triển võ khí hạt nhân; 4- không nước nào được mưu đồ bá chủ hoặc tạo ảnh hưởng toàn cầu, hoặc tổ chức hay liên kết quân sự thành một khối trực tiếp uy hiếp những nước khác; và 5- mọi tranh chấp lãnh thổ, tranh chấp biên giới cũng như các vấn đề khác giữa các quốc gia trong khu vực phải được giải quyết một cách hòa bình không sử dụng võ lực.

104- Hội đàm thủ tướng Trung Cộng – Việt Cộng (tháng 12-1992)

Đầu thập niên 1990, Việt Cộng bị cô lập do chánh sách cấm vận của Mỹ và bị bỏ rơi sau khi khối Đông Âu và Liên Xô sụp đổ. Trong khi đó kẻ thù Trung Cộng đang bắt đầu thực hiện mạnh mẽ việc dùng võ lực tiến xuống làm chủ biển Đông Nam Á. Giới lãnh đạo chóp bu Việt Cộng buộc phải ngã theo thần phục Trung Cộng, vừa nhượng bộ một số đất đai biên giới và lãnh hải truyền thống để mong được làm lành với Trung Cộng, vừa yếu ớt phản đối những đòi hỏi thái quá của Trung Cộng để mong xoa dịu dư luận phản đối của dân chúng trong nước và ở hải ngoại.

Việc Trung Cộng nhượng quyền cho Công ty dầu mỏ Crestone phần thềm lục địa thuộc yêu sách của Việt Nam tại bờ đá Vanguar (tức Wanan Bei hay Tư Chính) và cam kết dùng võ lực để bảo vệ cho công ty này hoạt động là một hành động đặt Việt Cộng vào một tình thế khó xử về chánh trị. Trung Cộng hiểu rằng nếu như Việt Cộng có ý định bình thường hóa quan hệ với Mỹ và muốn Mỹ bỏ cấm vận thì lúc này sẽ phải chần chừ không dám ‘hành động càn rở’ với một công ty Mỹ ở biển Đông Nam Á.

Rắc rối này là đề tài thảo luận chủ yếu tại Hội nghị Trung ương đảng Việt Cộng lần 3 vào tháng 6-1992. Nhiều ủy viên trung ương lo sợ rằng việc Trung Cộng nhượng quyền khai thác có nghĩa là họ đã tin tưởng mình có đủ sức mạnh để thôn tính cả quần đảo Trường Sa (Spratly). Một số lãnh đạo trẻ Việt Cộng còn nghĩ rằng phải chuẩn bị cho một cuộc xung đột quân sự lớn để bảo vệ chủ quyền. Tuy nhiên tất cả nhanh chóng nhận ra rằng Hải quân Việt Cộng không đủ sức bảo vệ bất kỳ đảo nào thuộc quần đảo Trường Sa một khi Trung Cộng tấn công.

Tháng 12-1992, thủ tướng Trung Cộng Lý Bằng sang gặp thủ tướng Việt Cộng Võ Văn Kiệt, để thảo luận vấn đề biển đảo. Trung Cộng cũng chưa muốn ‘cạn tàu ráo máng’ vào lúc này, nên dù ít có tiến bộ đạt được, song hai bên đã thỏa thuận sẽ dàn xếp tranh chấp một cách hòa bình và nâng cấp về mức độ và các bước tiến hành thương thảo.

Về việc nhượng quyền cho Crestone, Trung Cộng đề nghị Việt Cộng nhận phần thềm lục địa giữa tuyến yêu sách truyền thống của Trung Cộng và cạnh phía tây của vùng nhượng quyền trong lúc Trung Cộng vẫn giữ lại vùng Crestone. Trong bản đề xuất ‘cùng nhau khai thác’ của Trung Cộng, mỗi bên sẽ có đầy đủ thẩm quyền khai thác trong khu vực của mình.

Việt Cộng từ chối ý kiến của Trung Cộng, cho rằng toàn bộ khu vực là thềm lục địa của mình, đã được quy định rõ theo luật UNCLOS. Lập luận này lấy từ ý kiến của đoàn luật sư người Mỹ được Việt Cộng thuê làm tư vấn. Theo đó chủ quyền của Việt Nam không chỉ là giếng dầu Thanh Long (Blue Dragon) mà toàn bộ vùng bờ đá Vanguard (Tư Chính). Một là, cả hai vị trí trên nằm sâu trong vùng 200 hải lý đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam. Hai là, nó cũng nằm sâu trong thềm lục địa Việt Nam dựa trên 350 hải lý thềm lục địa được phân phối do nguyên tắc mép lục địa đương nhiên được kéo dài thêm. Ba là, sử dụng nguyên tắc cách đều và tánh cân xứng để định ra một vùng biên giới giả định thì cả hai vùng trên cũng hoàn toàn thuộc về Việt Nam. Việt Cộng giờ đây đã phê chuẩn UNCLOS và muốn mang vấn đề tranh chấp thềm lục địa của mình với Trung Cộng ra tòa án quốc tế. Hiển nhiên là Việt Cộng có kế hoạch dựa vào dư luận quốc tế làm bẻ mặt Trung Cộng và kềm chế nước này không manh động nữa.

Trung Cộng thì cho rằng vùng mình yêu sách ‘nằm trong đường biên yêu sách theo lịch sử và nằm bên cạnh đường trung gian giữa hòn đảo gần nhất bị đòi chủ quyền và phần lãnh thổ Việt Nam không có yêu sách’. Vùng trên cũng rơi vào vùng tiềm năng 200 hải lý EEZ từ đảo gần nhất mà Trung Cộng đòi chủ quyền. Như vậy yêu sách của Trung Cộng thử nghiệm một phần về mặt yêu sách chủ quyền trên các đảo và một phần dựa trên thực tế là các đảo trên nằm trong diện UNCLOS nên do đó được hưởng các quyền EEZ. Theo Trung Cộng lập luận, yêu sách theo lịch sử của Trung Cộng, bao trùm hầu hết vùng biển Đông Nam Á và gồm cả những đảo chìm, như bờ đá Vanguard, phải được sự chú ý và quan tâm của tất cả các nước Đông Nam Á, chứ không chỉ có các nước có yêu sách về các đảo.

105- Hoạt động Việt Cộng ở quần đảo Trường Sa (12-1992)

Tháng 12-1992, Việt Cộng khánh thành một ngư cảng trên đảo thuộc quần đảo Trường Sa, đúng vào lúc thủ tướng Trung Cộng Lý Bằng đang ở thăm Hà Nội. Việt Cộng đã mời một số phóng viên ngoại quốc ra thăm viếng các đảo thuộc quần đảo Trường Sa và quay phim chụp hình.

106- Brunei tuyên bố về ranh giới thềm lục địa (1993)

Năm 1993, Brunei ra Tuyên bố về ranh giới thềm lục địa, có một phần liên quan đến vùng biển thuộc quần đảo Trường Sa nhưng không yêu sách chủ quyền đối với bất kỳ một đảo, đá, bãi nào của quần đảo.

107- Vòng 3 đàm phán Việt – Trung về quần đảo Spratly (3-1-1993)

Ngày 3-1-1993, Việt Cộng và Trung Cộng bắt đầu vòng đàm phán kỹ thuật thứ 3 về quần đảo Spratly (Việt Nam gọi là Trường Sa, Trung Quốc gọi là Nam Sa). Tuy nhiên lần họp này chỉ là thăm dò các nguyên tắc mà theo đó sự tranh chấp sẽ được sắp sếp, chứ cục diện không có tiến triển gì.

108- Tranh chấp tại vùng vịnh Bắc Bộ (tháng 1-1993)

Cuộc đàm phán về quy chế phân định vịnh Bắc Bộ giữa Việt Cộng và Trung Cộng nhanh chóng bế tắc. Tháng 1-1993, một ngày sau khi đoàn đàm phán Trung Cộng rời Hà Nội về nước, Trung Cộng ra lệnh cấm mọi hoạt động trên biển trong một vùng hình chữ nhật lấn sâu vào khu vực 200 hải lý từ bờ biển Việt Nam để họ ‘có thể tiến hành các hoạt động bắt đầu thăm dò’ trong vùng Việt Nam đang có yêu sách chủ quyền.

Năm 1887, một hiệp định biên giới được ký tại Bắc Kinh quy định rằng kinh tuyến 1080318E là đường biên giới trên biển giữa Trung Hoa và Tonkin thuộc Pháp. Hiện trạng này vẫn ổn định cho đến năm 1975. Thời kỳ chiến tranh Đông Dương lần 2 (1954-75), tàu thuyền Trung Cộng liên tục ra vào vịnh Bắc Bộ tiếp tế cho người anh em Việt Cộng chống Mỹ. Nhưng sau khi chiến tranh kết thúc năm 1975, quan hệ Việt – Trung ngày càng căng thẳng, kéo theo việc công khai tranh chấp biên giới trên bộ và dưới biển.

109- Philippines tăng cường xây dựng trên quần đảo Spratly (tháng 2-1993)

Tháng 2-1993, tổng thống Philippines Fidel V. Ramos chỉ thị cho bộ trưởng Du lịch cấp tốc xây dựng cơ sở du lịch tại các đảo họ đang chiếm đóng trên quần đảo Spratly (Trường Sa).

Tháng 5-1993, tổng thống Ramos ra lệnh cho quân đội mở rộng đường băng trên đảo Pag-asa (Thị Tứ, hay Thitu).

110- Vòng 2 đàm phán phân định vịnh Bắc Bộ (tháng 2-1993)

Vòng 2 cuộc đàm phán Trung-Việt ở cấp chuyên viên về phân định đường biên giới vịnh Bắc Bộ nhóm họp cuối tháng 2-1993 tại Bắc Kinh. Đôi bên chỉ nêu quan điểm và lập luận của mình và nghe bên kia bác bỏ, vì thế cuộc đàm phán lại bế tắc.

Ngày 21-2-1993, Đoàn đại biểu Tổng Công hội Trung Quốc sang thăm Hà Nội.

101- Việt Cộng và Trung Cộng hoạt động ở vùng biển Việt Nam (tháng 4 và 5-1993)

Ngày 19-4-1993, Viện Khoa học Việt Nam tổ chức đoàn các nhà khoa học khảo sát nghiên cứu tổng hợp vùng quần đảo Trường Sa.

Tháng 5-1993, tàu Trung Cộng và công ty British Petroleum (BP) của Anh bắt đầu tiến hành khoan thăm dò khai thác dầu khí ở vùng biển hoàn toàn thuộc Việt Nam.

102- Cải thiện quan hệ giữa Việt Cộng với ASEAN và quốc tế

Hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới tan rã càng chứng tỏ ưu thế phát triển của xu hướng tự do hóa kinh tế toàn cầu và nền kinh tế thị trường tự do. Bằng những nổ lực của mình, các nước ASEAN và Liên Hiệp Quốc đã buộc được quân Việt Cộng rút khỏi Cambodia, hoàn thành cơ bản sứ mệnh hòa bình ở Cambodia. Việc giải quyết vấn đề Cambodia đã đánh dấu việc loại trừ nguy cơ xung đột, góp phần làm cho bầu không khí ở Đông Nam Á hòa dịu hẳn đi, chuyển từ đối đầu căng thẳng sang ổn định, hòa hoãn.

Trong hai ngày 23 và 24-7-1993, Hội nghị thường kỳ hàng năm của các bộ trưởng Ngoại giao ASEAN (AMM) hoàn thành chương trình nghị sự về hợp tác an ninh và chánh trị, tình hình khu vực và quốc tế, nhân quyền, hợp tác kinh tế quốc tế và khu vực… Hội nghị đề ra sáng kiến thành lập Diễn đàn An ninh khu vực (ARF) để bàn thảo các vấn đề chánh trị và an ninh trong khu vực.

Ngày 13-12-1993 tại Paris, đại diện chánh phủ 11 nuớc cho Việt Cộng vay họp bàn về việc giảm nợ cho Việt Cộng.

103- Hội thảo kỳ 4 về biển Đông Nam Á tại Surabaya (tháng 8-1993)

Hội thảo kỳ 4 về quản lý xung đột hàng hải trong vùng biển Đông Nam Á nhóm họp tại Surabaya (tháng 8-1993).

104- Vòng 3 đàm phán phân định vịnh Bắc Bộ (tháng 10-1993)

Vòng 3 cuộc đàm phán Trung – Việt ở cấp chuyên viên về phân định đường biên giới vịnh Bắc Bộ nhóm họp tháng 10-1993 tại Hà Nội. Đôi bên chỉ nêu quan điểm và lập luận của mình và nghe bên kia bác bỏ, vì thế cuộc đàm phán vẫn không tiến triển. Tuy nhiên, đôi bên đạt được thỏa thuận về nguyên tắc căn bản để dàn xếp tranh chấp biên giới trên bộ lẫn vùng biển, ở vịnh Bắc Bộ lẫn tranh chấp các đảo trong vùng biển Đông Nam Á. Hai bên cũng đồng ý tự kềm chế việc dùng võ lực hoặc đe dọa dùng võ lực để tranh chấp tại các khu vực trên.

105- Quan hệ cấp cao Việt Cộng – Trung Cộng (19-11-1993)

Ngày 19-11-1993, Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Trung Quốc sang thăm Việt Cộng.

106- Việt Cộng ngăn cản công ty Crestone khoan dầu (12-1993)

Tháng 12-1993, Việt Cộng yêu cầu công ty Crestone của Mỹ hủy bỏ việc hợp tác với Trung Cộng ‘thăm dò khai thác dầu ở vùng biển hoàn toàn thuộc về Việt Nam’.

107- Trung Cộng đòi chủ quyền quần đảo Spratly (2-1994)

Tháng 2-1994, Quốc hội Trung Cộng thông qua Luật về lãnh hải và vùng tiếp giáp. Đồng thời, Trung Cộng khẳng định rằng theo luật này thì toàn bộ Nam Sa quần đảo (tức Spratly hay Trường Sa) phải được chuyển giao chủ quyền cho Trung Cộng.

Trong năm 1994, Trung Cộng hoàn thành việc xây dựng một căn cứ hải quân trên rặng đá ngầm Yongshu Jiao (tức Fiery Cross, Đá Chữ Thập) tại quần đảo Spratly. Tại đây cũng có một trạm quan sát hải dương học hiện đại, có thể nhận và truyền tín hiệu vệ tinh, cung cấp dữ liệu khí tượng quan trọng cho phi cơ và tàu biển qua lại. Tại đây cũng có một bãi đáp trực thăng, một bến tàu dài 300 mét cho tàu 4.000 tấn và một trạm viễn thông.

108- Hội nghị Trung Cộng – Đài Loan về biển Đông Nam Á (26-6-1994)

Ngày 26-6-1994, một hội nghị hỗn hợp Trung Cộng – Đài Loan được tổ chức tại Đài Bắc. Cố vấn chánh trị Chánh phủ Đài Loan Zhang Jinyou thúc giục hai chánh quyền Bắc Kinh – Đài Bắc cùng nhau vẽ lại bản đồ lãnh hải và thực hành quyền tài phán tương ứng. Đài Loan đã nhắc lại yêu sách của mình gồm hầu hết vùng biển Đông Nam Á như một vùng biển của Trung Quốc trong lịch sử, và được sự đồng tình ủng hộ của Trung Cộng, tiếp tục cho rằng phải theo đuổi hợp tác đa phương trên cả vùng biển Nam Hải, chứ không chỉ riêng vùng quần đảo Nam Sa (tức Spratly hay Trường Sa) hoặc khu vực nhiều nước tranh chấp chủ quyền. Đài Loan còn đề nghị thành lập một cơ quan hợp pháp liên kết giữa Cộng – Đài để hỗ trợ cho yêu sách bao trùm của họ. Hội nghị nhất trí thành lập một đoàn thám hiểm hải dương học hỗn hợp Trung Cộng – Đài Loan đến ngay quần đảo Nam Sa.

109- Việt Cộng phê chuẩn Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982 (23-6-1994)

Ngày 23-6-1994, Quốc hội Việt Cộng phê chuẩn Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982, chính thức coi Luật Biển năm 1982 là một nội dung công pháp quốc tế mà Việt Nam tuân thủ. Theo Công ước 1982, phạm vi vùng biển của Việt Nam được mở rộng ra một cách đáng kể lên đến gần một triệu ki lô mét vuông với 5 vùng biển có phạm vi và chế độ pháp lý khác nhau.

H2Các vùng biển quốc gia của Việt Nam theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982

110- Việt Cộng ký nhượng quyền cho công ty Mobil (4-1994)

Tháng 4-1994, Việt Cộng ký hợp đồng với công ty dầu khí Mobil của Mỹ thăm dò khai thác dầu khí ở khu vực mỏ Thanh Long nằm trong thềm lục địa Việt Nam.

Ngày 12-5-1994, Bộ Ngoại giao Trung Cộng phản đối Việt Cộng cấp nhượng quyền cho công ty Mobil hoạt động ở khu vực Thanh Long là vùng biển phụ cận thuộc quần đảo Nam Sa (tức Trường Sa) thuộc Trung Quốc.

111- Tranh chấp ở vịnh Bắc Bộ (tháng 7-1994)

Ngày 2-7-1994, Việt Cộng tuyên bố vừa bắt giữ 3 tàu cá Trung Cộng xâm phạm lãnh hải gần đảo Bạch Long Vĩ. Hôm sau 3-7, hai tàu Trung Cộng bắn vào một tàu tuần tra Việt Cộng khi tàu này tiến lại gần để kiểm soát làm 3 người bị thương.

Cuối tháng 6 đầu tháng 7-1994, Việt Cộng ra thông báo chào mời đấu thầu quốc tế thăm dò các lô dầu khí ở vịnh Bắc Bộ tại các hội nghị tổ chức ở London (Anh) và Houston (Mỹ), gồm cả những vùng phụ cận của đảo Hải Nam thuộc Trung Cộng. Việc này bị Trung Cộng kịch liệt phản đối vào ngày 5-7-1994.

112- Cải thiện quan hệ giữa Việt Cộng với ASEAN

Kể từ năm 1992, các nước ASEAN cũng muốn hòa hoãn với Việt Cộng và Trung Cộng để duy trì hòa bình và ổn định, nên quan hệ Việt Cộng – ASEAN lần hồi  phát triển mạnh cả trong quan hệ đa phương và song phương. Buôn bán, đầu tư và trao đổi các cấp đều tăng. Tính đến cuối năm 1994, đầu tư của các nước ASEAN vào Việt Cộng tăng nhanh.

H3

Năm 1993, Việt Cộng được mời tham dự Diễn đàn khu vực ASEAN lần nhất (tháng 7-1994) và các chương trình hợp tác ASEAN trên năm lĩnh vực: khoa học công nghệ, môi trường, y tế, văn hoá thông tin, phát triển xã hội và một số dự án hợp tác chuyên ngành khác.

Từ ngày 22 đến 23-7-1994 tại Bangkok đã diễn ra Hội nghị ngoại trưởng lần 27 các nước ASEAN. Tại cuộc họp này, lần đầu tiên có sự tham gia của 10 nước Đông Nam Á bao gồm 6 nước hội viên ASEAN (Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan), hai nước quan sát viên Lào Cộng, Việt Cộng, và hai khách mời là Cambodia và Myanmar. Tại hội nghị, Việt Cộng chánh thức nộp đơn xin gia nhập ASEAN.

Ngày 17-10-1994, bộ trưởng Ngoại giao Việt Cộng Nguyễn Mạnh Cầm gửi đơn đến chủ tịch Ủy ban thường trực ASEAN (ASC) kiêm ngoại trưởng Brunei xin gia nhập ASEAN.

113- Tranh chấp mỏ dầu ở khu vực Tư Chính (8-1994)

Tháng 8-1994, công ty Crestone của Mỹ cùng với công ty Trung Cộng bắt đầu tổ chức khai thác dầu ở lô 133, 134, 135 bãi Vạn An Bắc 21 tức khu vực bãi Tư Chính thuộc khu vực thềm lục địa Việt Nam. Trung Cộng đề nghị chia phần cho phía Việt Cộng, và cho rằng vùng này thuộc chủ quyền Trung Cộng. Việt Cộng cho tàu hải quân xua đuổi tàu khai thác Trung Cộng ra khỏi địa phận Việt Nam.

114- Tranh chấp hải phận giữa Trung Cộng và Philippines (9-1994)

Tháng 9-1994, Hải quân Philippines bắt giữ 55 binh sĩ Trung Cộng khi đang cố dựng nhà cửa trên một hòn đảo đang do Phi trấn giữ trong quần đảo Spratly. Những người này sau đó bị đưa ra tòa kết tội nhập cảnh và sở hữu chất nổ bất hợp pháp.

115- Chánh sách của Đài Loan tại biển Đông Nam Á (tháng 9-1994)

Đài Loan hầu như lờ đi không cần cố gắng đạt được yêu sách các quần đảo trên biển Đông Nam Á cho riêng mình. Chánh phủ Đài Loan chú tâm hàng đầu vào việc được quốc tế nhìn nhận là một quốc gia độc lập và có nhiều nhu cầu sống còn khác lớn hơn là tranh giành tại vùng biển Đông Nam Á. Nhưng Đài Loan vẫn tiếp tục yêu sách chủ quyền toàn bộ biển Đông Nam Á và công khai khuyến khích và hỗ trợ Trung Cộng đại diện ‘nước Trung Hoa vĩ đại’ thực hiện yêu sách này thành sự thật.

Chánh quyền Trung Hoa Dân Quốc đã chiếm hòn đảo Itu Aba năm 1956 và đặt tên là Tai Ping Dao (Thái Bình đảo), mà đảo này lại do Nhật chiếm của xứ Cochichine (tức Nam Kỳ) thuộc Pháp năm 1940. Itu Aba là đảo lớn nhất trong quần đảo Spratly (tức Trường Sa). Sau khi chánh quyền Trung Hoa Dân Quốc chuyển ra Đài Loan vẫn tiếp tục kiểm soát đảo này, sau đó do Việt Nam Cộng Hòa chiềm lại rồi tháng 4-1975 lại bị Đài Loan chiếm một lần nữa. Tính đến tháng 9-1994, Đài Loan đã xây trên đảo một sân bay, một ngư cảng và một căn cứ quân sự thường xuyên có 800 quân chiếm đóng.

Tháng 3-1988, khi Trung Cộng chiếm một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa đang do Việt Cộng trấn giữ, bộ trưởng Quốc phòng Đài Loan tuyên bố rằng ‘sẵn sàng giúp Trung Cộng phòng vệ nhóm đảo chống bên thứ ba xâm nhập nếu được yêu cầu’.

Trong năm 1994, Tập đoàn Dầu mỏ Trung Quốc (CPC) chi nhánh Đài Loan, Tập đoàn dầu mỏ CNOOC Trung Quốc và Tập đoàn Dầu mỏ Chevron của Mỹ đã thảo luận thành lập một liên doanh thăm dò dầu khí trong vùng biển tây và nam Trung Hoa. Đại diện của CNOOC và CPC đã chọn địa điểm ngoài khơi đảo Hải Nam, vùng châu thổ sông Châu Giang, và vùng đảo Đông Sa (Dong Sha) để khai thác chung. Việc này khuyến khích khả năng tạo ra một mặt trận thống nhất chung của Trung Cộng – Đài Loan trong việc thực hiện yêu sách chủ quyền ở biển Đông Nam Á.

H4Đảo Ba Bình bị Đài Loan chiếm đóng từ năm 1956, 1975

116- Tranh chấp ở vịnh Bắc Bộ (10-1994)

Trong tháng 10-1994, Việt Cộng từ chối một yêu sách của Trung Cộng về quyền đánh bắt truyền thống trong vùng biển cách bờ mỗi nước 12 hải lý.

Cũng trong tháng 10, Liên đoàn Quốc gia dầu mỏ ngoài khơi Trung Quốc (CNOOC) chào mời đấu thầu quốc tế dạng herta có trùng lắp chút ít với các lô đã được Việt Cộng định danh trước đó.

117- Hội thảo kỳ 5 về biển Đông Nam Á tại Bukittinggi (26-10-1994)

Hội thảo kỳ 5 về ‘quản lý xung đột hàng hải trong vùng biển Asean’ nhóm họp từ 26 đến 28-10-1994 tại Bukittinggi (Indonesia). Tham dự gồm viên chức Bộ Ngoại giao và viện sĩ 6 nước ASEAN, cùng với Việt Cộng, Trung Cộng, Đài Loan và Lào. Lịch trình hội nghị gồm nhiều chủ đề về vùng biển Asean, nhưng lại né tránh tập trung vào vấn đề gây tranh cãi nhất là mâu thuẫn về yêu sách chủ quyền các hòn đảo. Các bên tham dự được đề nghị khuyến cáo lại chánh phủ nước mình về nội dung cốt lõi của Tuyên bố tại Hội nghị Bandung tháng 7-1991.

Tại buổi khai mạc, ngoại trưởng nước chủ nhà Ali Alatas hy vọng có được sự tham gia của các thể chế nhà nước và các bên không thuộc vùng biển Đông Nam Á trong các dự án hợp tác chung. Trung Cộng và Đài Loan bác bỏ cam kết không bành trướng chiếm đóng quân sự thêm trong vùng biển Đông Nam Á và các đề mục truyền thống như vấn đề Paracel, Spratly phải được bỏ khỏi lịch trình hội nghị. Họ đề xuất liên kết phát triển đa phương trên gần như toàn bộ vùng biển Đông Nam Á, kể cả phần thềm lục địa các nước khác, và chỉ chấp nhận thương thảo song phương với từng nước yêu sách. Malaysia phản đối việc liên kết phát triển đa phương, nhất là tại khu vực mình tuyên bố chủ quyền. Việt Cộng cũng tuyên bố giống như Malaysia, nhưng lại ủng hộ thương thảo đa phương và liên kết phát triển riêng biệt trong vùng quần đảo Trường Sa (Spratly). Phlippines là nước duy nhất ủng hộ liên kết phát triển đa phương trên toàn bộ khu vực họ có yêu sách nhưng các đối tác phải tôn trọng chủ quyền của Phi. Lần họp này có tiến bộ trong việc các nước đồng ý hợp tác nghiên cứu về tính đa dạng sinh học, về bảo vệ môi trường biển, về quản lý biển.

118- Bộ Ngoại giao Việt Cộng khẳng định chủ quyền lãnh hải (1994)

Năm 1994, trong khi Quốc hội Việt Cộng chánh thức thông qua Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển 1982, thì tờ báo American Asian Review, Vol 12, No. 4, Winter, 1994 (pp 23-37) có đăng một bài báo của một cán bộ Bộ Ngoại giao Việt Cộng tên Đặng Ngọc Huy, trong đó có đoạn: Vietnam has always maintained that the 1887 Sino – French Convention on the delimitation of the frontier between China and Tonkin (North Vietnam) established the ‘sea boundary’ between the two countries in the Gulf; và khẳng định lập trường của Bộ Ngoại giao Việt Cộng là chủ quyền lãnh hải của Việt Nam là 63% diện tích vịnh Bắc Bộ.

119- Công ước Liên Hiệp Quốc về luật biển có hiệu lực (16-11-1994)

Công ước 1982 của Liên Hiệp Quốc về luật biển (United Nations Convention on the Law of the Sea – UNCLOS) được thông qua tại Hội nghị quốc tế lần 3 về biển ngày 10-12-1982. Công ước luật biển 1982 chánh thức có hiệu lực từ ngày 16-11-1994, tức là sau 12 tháng kể từ ngày quốc gia thứ 60 (là Guyana) phê chuẩn Công ước vào ngày 16-11-1993. Tính đến tháng 11-1966, UNCLOS đã có 108 nước phê chuẩn.

Trong số các nước vây quanh biển Asean, tính đến cuối năm 1994 đã có Indonesia, Philippines, Việt Cộng và Singapore phê chuẩn. Việt Nam là nước thứ 61 phê chuẩn khi Quốc hội Việt Cộng biểu quyết tán thành vào ngày 23-6-1994.

120- Tổng bí thư Trung Cộng sang Hà Nội (18-11-1994)

Ngày 18-11-1994, tổng bí thư Đảng kiêm chủ tịch nước Trung Cộng Giang Trạch Dân cầm đầu phái đoàn cao cấp sang thăm Hà Nội và Sài Gòn.

Ngay trước cuộc viếng thăm Hà Nội của Giang Trạch Dân, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Cộng tỏ vẻ giận dữ cáo buộc ‘từ tháng 5 đến tháng 10-1994, Trung Quốc đã vi phạm có hệ thống và không thể chấp nhận được, đã có 14 lần với 37 tàu thuyền xâm nhập vào hải phận Việt Nam thuộc vịnh Bắc Bộ đánh bắt hải sản và chở hàng buôn lậu đã bị phát hiện, trong khi số liệu không bị phát hiện sẽ gấp nhiều lần’.

Trong cuộc hội đàm tại Hà Nội, cả Giang Trạch Dân và tổng bí thư Việt Cộng Đỗ Mười đều tỏ ra mềm dẻo và thật tâm làm lành với nhau, ‘đồng ý gác sang một bên những khác biệt để tập trung vào việc phát triển mối quan hệ’. Đặc biệt, hai bên đồng ý thảo luận một giải pháp lâu dài cho các tranh chấp ở quần đảo Spratly (Việt Nam gọi là Trường Sa, Trung Quốc gọi là Nam Sa), nhưng có lẽ do ngại đụng chạm nên Việt Cộng lại không nhắc nhở gì đến Hoàng Sa (mà Trung Cộng gọi là Tây Sa).

Trong cuộc làm việc giữa hai ngoại trưởng Tiền Kỳ Thâm và Nguyễn Mạnh Cầm tháp tùng cuộc gặp thượng đỉnh lần này, Việt Cộng cũng chiều theo ý kiến kiên quyết của Trung Cộng là đòi hỏi các bên tranh chấp yêu sách chủ quyền quần đảo Spratly phải thảo luận song phương, do đó đã làm cho Brunei, Đài Loan, Malaysia và Philippines lo ngại. Việt Cộng cũng ngại nếu tìm kiếm sự hỗ trợ từ các đối thủ có yêu sách khác để cùng chống yêu sách của Trung Cộng, thì có nghĩa là công khai nhìn nhận chủ quyền của các nước khác ở nơi đó. Cầm cho biết Việt Cộng không chấp nhận toàn bộ đề xuất của Trung Cộng trong việc liên kết phát triển vùng bờ đá Vanguard (tức khu vực Tư Chính), và cần phải thảo luận thêm nữa để hiểu rõ cách nào và tại đâu ở khu vực trên mô hình liên kết trên có thể được áp dụng.

Cả Dân và Mười cũng đồng ý sớm thành lập một nhóm hỗn hợp đặc biệt tách riêng tìm kiếm những giải pháp cho các tranh chấp ở Tư Chính (mà Trung Cộng gọi là Wanan Bei tức Vạn An Bắc) và Trường Sa (~Nam Sa). Dân cũng nói Trung Quốc sẵn sàng nhượng bộ, chỉ nhận 50% vịnh Bắc Bộ. Nguyễn Mạnh Cầm lạc quan cho rằng vấn đề có thể giải quyết sớm hơn mong đợi bằng cách tách vấn đề vịnh Bắc Bộ và Spratly ra, rồi hai bên sẽ đẩy nhanh việc phân giới vịnh Bắc Bộ.

121- Vòng 3 đàm phán phân định vịnh Bắc Bộ (20-12-1994)

Ngay sau chuyến thăm của lãnh đạo tối cao Trung Cộng Giang Trạch Dân, ngày 1-12-1994, Đoàn đại biểu Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc Trung Cộng cũng sang thăm hữu nghị Việt Cộng.

Vòng 3 cuộc đàm phán phân định vịnh Bắc Bộ tổ chức tại Hà Nội từ 20 đến 22-12-1994. Phía Trung cộng chính thức đề nghị chia đôi vịnh Bắc Bộ.

122- Việt Cộng muốn cải thiện quan hệ với Mỹ (12-1994)

Sau sự sụp đổ của Liên Xô, Việt Cộng trở lại thần phục cựu thù Trung Cộng nhưng cũng muốn có Mỹ làm một trái độn, làm đối trọng và một bộ thăng bằng trên vùng biển Đông Nam Á.

Ngày 4-12-1994, Bản tin Associated Press có bài khẳng định chánh quyền Việt Cộng muốn cải thiện niềm tin của Mỹ bằng cách vừa mở lời cho Hải quân Mỹ sử dụng vịnh Cam Ranh. Ngày 21-12-1994, tạp chí Australian Financial Review đăng bài của Paul Cleary nhan đề Vietnam: Hanoi Observed – Old Enemies Locked in a Delicate Balancing Act, cho biết: ‘chánh quyền Bắc Kinh vừa công khai chánh thức cảnh cáo sẽ chống lại bất kỳ nước ngoài nào thành lập căn cứ quân sự tại Việt Nam’.

Trong bài Trung Quốc và các tranh chấp vùng biển Nam Trung Hoa của Mark J. Valencia (Oxford University Press, 1995) có đoạn viết: Như một quan chức cao cấp đã nhận xét, ‘nếu Mỹ không đưa ra dấu hiệu nào hỗ trợ các nước nhỏ hơn trong vấn đề này, Việt Nam sẽ không còn cách nào khác đành phải thích nghi với Trung Quốc’, có lẽ qua một thỏa hiệp không thuận lợi về phía Việt Nam – tiền đề và lôi kéo – bất lợi cho các nước có yêu sách khác. Cũng theo quan chức trên, chọn lựa này đã được phe thân Trung Quốc ở Hà Nội tán thành. Cho nên, sự công nhận Việt Nam của Mỹ sẽ tiếp sức cho bàn tay Việt Nam trong cuộc tranh chấp.

123- Việt Cộng tăng cường hoạt động ở quần đảo Trường Sa (tháng 12-1994)

Ngày 26-12-1994, đài Reuters loan tin Liên bang Nga đang giúp Việt Cộng khảo sát khoa học tại đảo Trường Sa. Đài này cũng cho biết tính đến tháng 12-1994, Việt Cộng đã hoàn thành việc xây dựng nhiều ngọn hải đăng tại các đảo đang trấn giữ trong quần đảo Spratly (tức Trường Sa), cũng như xây một trạm nghiên cứu khoa học tại đảo Trường Sa. Việc này lập tức bị các nước Trung Cộng, Malaysia, Philippines lên tiếng phản đối.

124- Cấp phép nhượng quyền dầu khí ở biển Đông Nam Á (đến tháng 12-1994)

Theo Tạp chí Offshore, tính đến tháng 12-1994, một số chánh phủ đã cấp giấy phép nhượng quyền thăm dò và khai thác đầu khí tại vùng nước sâu phía trong và liền kề khu vực quần đảo Spratly (Trường Sa) như: Philippines cấp cho các công ty Kirkland và Alcorn; Trung Cộng cấp cho công ty Crestone của Mỹ; Malaysia cấp cho công ty Sabah Shell; Việt Cộng cấp cho công ty Mobil… Tháng 12-1994, công ty Occidental đã khoan và tìm ra dầu dưới mức khai thác thương mại ở khoảng 1.280 mét sâu khỏi phía tây bắc Palawan.

125- Hội nghị SEAPOL ba khu vực (tháng 12-1994)

Tại Hội nghị SEAPOL ba khu vực tại Bangkok tháng 12-1994, các đại biểu các nước tiếp tục biểu thị sự lo lắng về tình hình an ninh của Biển Đông và trao đổi ý kiến về sự hợp tác trong khu vực. Những vấn đề thời sự nỗi bật nhất là việc giải quyết vấn đề Cambodia, vấn đề tranh chấp chủ quyền các hòn đảo trên Biển Đông Nam Á và việc bình thường hóa quan hệ giữa Việt Cộng và Trung Cộng.

126- Sách ‘Cuộc tranh chấp Việt-Trung về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa’ (1995)

Năm 1995, Nhà xuất bản Công An Nhân Dân (Hà Nội) xuất bản tập sách ‘Cuộc tranh chấp Việt-Trung về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa‘ của tác giả Lưu Văn Lợi. Ông Lợi (1913-2016) nguyên là trợ lý bộ trưởng Bộ Ngoại giao, rồi trưởng ban Biên giới của Hội đồng Bộ trưởng (1978-79).

bauvinal.info.free.fr/tulieu/CuoctranhchapHSTS.pdf

127- Trung Cộng bắt giữ ngư dân Philippines (tháng 1-1995)

Cuối tháng 1-1995, tàu hải quân Trung Cộng bắt giữ 2 tàu chở 35 ngư dân Philippines khi đang đánh cá tại quần đảo Trường Sa (mà Philippines gọi là Kalayaan). Sau đó, Trung Cộng yêu cầu đổi 35 người này lấy 55 người đã bị Philippines bắt hồi tháng 9-1994. Sau khi Phi thả người Trung Quốc, ngư dân Phi cũng được tự do sau một tuần bị giam giữ.

128- Trung Cộng tranh chấp dãi đá Mischief Reef với Philippines (8-2-1995)

Suốt từ tháng 12-1994 đến tháng 1-1995, tình báo quân sự Mỹ phát hiện các đơn vị chiến đấu chủ lực bộ của Hạm đội Nam Hải Trung cộng đã kích hoạt hệ thống khai hỏa bằng ra đa và cài sẵn trên các tàu chiến gần các đảo thuộc quần đảo Spratly (tức Trường Sa).

Ngày 8-2-1995, Hải quân Trung Cộng bất ngờ cho 9 tàu chiến tấn công chiếm rặng đá ngầm Mischief Reef trong quần đảo Spratly vốn được Philippines tuyên bố chủ quyền năm 1976 nhưng không có quân trấn giữ. Mischief Reef là một dãi san hô ngầm trơ trọi lúc đó không có người ở, có mũi đá vươn lên trên mặt biển, trãi rộng hơn 50 cây số vuông, cách đảo Palawan khoảng 135 hải lý về phía tây, Việt Nam gọi là bãi đá Vành Khăn, Trung Cộng gọi là Meijijiao, Philippines gọi là Panganiban. Hải quân Phi cho 1 tàu chiến và 5 chiến đấu cơ ra xua đuổi nhưng cuối cùng đảo đá này cũng bị chiếm. Sau đó, Công binh hải quân Trung Cộng gấp rút xây dựng đường xá và căn cứ phòng thủ kiên cố trên Mischief Reef.

Philippines gửi công hàm phản đối cho Đại sứ quán Trung Cộng ở Manila. Trung Cộng ngang ngược chối bỏ việc mới chiếm đảo cũng như mới xây dựng trên đảo, mà nói rằng các cấu trúc xây dựng trên Mei-ji-jiao là các chòi trú bão cho ngư dân và do Cục Quản lý ngư nghiệp của họ dựng lên từ lâu. Các chuyên gia Philipines đưa ra ảnh chụp chứng minh rằng các công trình là trạm ăng ten liên lạc vệ tinh, cột cờ Trung Cộng, tháp canh và đồn trại xây bằng bê tông kiên cố thì Trung Cộng vẫn nói đã chiếm hữu và xây dựng từ mấy chục năm trước.

Hành vi của Trung Cộng làm phía Mỹ có nhiều tuyên bố phản ứng gay gắt vì Phi là một đồng minh thân thiết của Mỹ và nhất là khi Phi đã ký hiệp ước phòng vệ với Mỹ – Úc – Tân Tây Lan năm 1951. Tuy nhiên, khi Phi nhờ can thiệp thì Mỹ phân bua rằng Hiệp ước phòng vệ không áp dụng cho vùng tranh chấp vì nó chỉ bao gồm những khu vực mang tính ‘thủ đô’ của Philippines như đã quy định trong Hiệp ước Paris 1899 và Hiến pháp Philippines 1935, và bởi vì Philippines đã đòi hỏi chủ quyền một phần quần đảo Spratly sau khi ký Hiệp ước phòng vệ 1951.

Bù lại, tổng thống Clinton đã đề nghị với tổng thống Philippines Fidel Ramos mở các cuộc tập trận hải quân song phương. Các phi công Phi được phép bay thử máy bay F16 của Mỹ, mở đầu cho một hợp đồng mua máy bay. Cuối tháng 7-1995, binh sĩ Phi đóng tại căn cứ Puerto Princesa được biệt kích hải quân Mỹ huấn luyện kỹ thuật chiến tranh đặc biệt.

Thủ tướng Nhật Bản Koichi Murayama thì nhân cơ hội này thảo luận với tổng thống Clinton kế hoạch phát triển Hải quân và Không quân Nhật. Murayama nói với Clinton rằng Nhật lo ngại về chủ nghĩa bành trướng lén lút có thật của Trung Cộng và cho rằng cần phải cản trở tham vọng đó, có lẽ thông qua sự trừng phạt kinh tế. Ngày 10-4-1995, thủ tướng Nhật bày tỏ sự quan ngại về hành động của Trung Cộng ở rặng đá ngầm Mischief khi hội kiến thủ tướng Lý Bằng.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Cộng lên tiếng khẳng định vùng đá Vành Khăn là thuộc chủ quyền Việt Nam, nhưng đồng thời bày tỏ sự bất bình về việc Trung Quốc có hành động gây hấn quân sự làm mất ổn định trong khu vực. Trong khi đó, Đài Loan đưa ba tàu tuần tra từ đảo Ba Bình đến thẳng khu vực tranh chấp và tuyên bố sẵn sàng ủng hộ Trung Cộng chiến đấu.

Lãnh đạo các nước ASEAN thì kêu gọi các bên không làm tổn hại đến mục tiêu của ASEAN là tạo ra một khu vực hòa bình, tự do và trung lập ở Đông Nam Á và tổn hại đến việc phát triển kinh tế. Tờ nhật báo Bangkok số ra ngày 13-2-1995 còn kêu gọi toàn khối ASEAN phải hợp sức lại đương đầu với Trung Cộng nhằm thuyết phục họ chấp nhận giải quyết vấn đề theo phương cách đa phương và hòa bình.

Ngày 17-4-1995, bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Warren Christopher nhắc nhở ngoại trưởng Trung Cộng Tiền Kỳ Thâm rằng Mỹ có nghĩa vụ trong Hiệp ước phòng vệ với Philippines trước mọi sự tấn công uy hiếp. Khuynh hướng tăng cường tên lửa của Trung Cộng, việc phát triển hải quân đại dương và sự khẳng định chủ quyền bằng võ lực trong vùng biển Đông Nam Á khiến Trung Quốc đã trở thành kẻ thù tiềm năng của Mỹ trong bất kỳ một kế hoạch chiến lược toàn diện nào. Từ nay việc bố trí của quân đội Mỹ sẽ bắt đầu xem xét kỹ lưỡng đến các yêu sách quá đáng của Trung Cộng, và khả năng dính líu tới xung đột tại các tuyến hàng hải của mình trong vùng biển Đông Nam Á. Thậm chí, Mỹ đã đặt Trung Cộng vào vai trò là đối tượng kẻ thù trong kế hoạch liên kết tập trận hải quân với các đồng minh tại khu vực.

Sau sự kiện Mischief, về đại thể chánh sách của Mỹ điều chỉnh như sau: Mỹ chống lại việc dùng võ lực để giải quyết tranh chấp; Mỹ sẽ quan sát và mạnh dạn quan tâm đến bất kỳ sự cản trở nào tới quyền tự do và an toàn hàng hải trong vùng biển Đông Nam Á; trong khi Mỹ không đứng về phía nào trong các tranh chấp, nói chung Mỹ chống lại những đòi hỏi quá đáng không phù hợp với thông lệ hoặc luật pháp quốc tế; Mỹ hỗ trợ tiến trình do Indonesia đăng cai và thúc giục các bên sử dụng cơ hội này làm diễn đàn thảo luận nhằm đạt một giải pháp đa phương cho các tranh chấp.

Sau khi thấy không thể thu hồi Mischief Reef lại được, Philippines xoay qua kêu gọi sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế, nhất là từ khối ASEAN và Mỹ, đồng thời dọa kiện Trung Cộng tại Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc và Tòa án quốc tế.

Việt Cộng nhân dịp này cũng muốn giành thiện cảm của Philippines và các nước ASEAN khác, vì thế tại một cuộc gặp song phương, ngoại trưởng Nguyễn Mạnh Cầm và ngoại trưởng Philippines Roberto Romulo cùng đề xuất triệu tập một hội nghị thượng đỉnh toàn Đông Nam Á vào tháng 12-1995 để thảo luận vấn đề tranh chấp hải phận.

Trung Cộng liền rút 7 trong số 9 tàu của mình ra khỏi lãnh hải 200 hải lý của Philippines, nhưng vẫn tiếp tục bảo vệ các công trình trên dãi Mischief Reef.

Tổng thống Fidel Ramos triệu tập Hội đồng An ninh quốc gia, khẳng định hành vi của Trung Cộng là xâm lược, và các công trình mới xây ở Mischief Reef chính là các tiền đồn hải quân Trung Cộng ngay giữa lãnh hải 200 hải lý của Philippines là điều không thể chấp nhận được cho an ninh Philippines. Hội đồng nhất trí đòi hỏi ‘kẻ xâm lược ngoại bang’ phải rút khỏi lanh thổ Philippines ngay và cam kết duy trì khả năng phòng thủ quốc gia. Quân dội Phi gửi ngay đến quần đảo Palawan thêm 28 tàu tuần tra, 1 tàu hàng, 2 trực thăng, 4 phản lực cơ huấn luyện. Thượng nghị viện Phi họp thông qua dự luật hiện đại hóa và phát triển quân đội.

129- Trung Cộng chiếm đảo đá ngầm Mischief thuộc quần đảo Trường Sa (tháng 2-1995)

Tháng 2-1995, Trung Cộng chiếm đảo đá ngầm Mischief thuộc quần đảo Trường Sa. Việt Cộng còn trấn giữ 7 đảo, 16 đá và 3 bãi. Philippines chiếm 7 đảo, 2 bãi và đá. Malaysia chiếm 7 bãi và đá.

130- Chánh sách của Mỹ về quần đảo Spratly và biển Đông Nam Á (27-2-1995)

Ngày 27-2-1995, cơ quan ISA (Office of International Security Affairs) thuộc Bộ Quốc phòng Mỹ phát hành tài liệu United States Government Policy on the Spratly Islands and the South China Sea – 1994, và United States Security Strategy for the East Asia-Pacific Region, khẳng định quan điểm của Chánh phủ Mỹ về các vấn đề đang xảy ra tại khu vực biển Asean và quần đảo Spratly như sau: Mỹ thúc giục các quốc gia liên quan dàn xếp vấn đề một cách êm thấm trên tinh thần đề cao hòa bình, thạnh vượng và an ninh. Mỹ cực lực phản đối sự hăm dọa hoặc sử dụng sức mạnh quân sự để áp đặt lên bất kỳ một quốc gia nào có yêu sách trong vùng lãnh thổ biển Asean và sẽ xem việc vi phạm trên là nghiêm trọng. Mỹ không đứng ra phân giải phải trái về mặt luật pháp cho sự tranh giành yêu sách chủ quyền và sẵn lòng giúp đỡ nếu được các bên yêu cầu trong một giải pháp hòa bình cho các cuộc phân tranh yêu sách. Mỹ có mối quan tâm chiến lược đối với việc duy trì tuyến liên lạc hàng hải trong vùng và cho rằng cần phải chống lại mọi yêu sách trên biển nào vượt quá sự cho phép của UNCLOS.

Tuân thủ chánh sách này, Mỹ ủng hộ việc khai thác một cách hòa bình nguồn tài nguyên trong khu vực như là cách tốt nhất có lợi cho các bên. Mỹ cũng xác định là hoàn cảnh hậu chiến tranh lạnh hiện nay tạo ra cơ hội tuyệt vời và duy nhất để hình thành một môi trường hợp tác an ninh tích cực trong khu vực. Mỹ hỗ trợ mạnh mẽ đối thoại đa phương về an ninh khu vực, đặc biệt là nỗ lực đang tiếp diễn của Indonesia nhằm mở ra một giải pháp hòa bình cho tranh chấp vùng biển Asean, và thúc giục các bên tham gia nhiệt tình trong khuôn khổ Indonesia đã đề nghị. Mỹ ủng hộ việc các nước có yêu sách hãy nỗ lực liên kết giải quyết các vấn đề mắc mứu và chú tâm phát triển khu vực, hơn là đơn phương thúc đẩy cho yêu sách lãnh thổ của mình tiến triển hơn. Phụ tá bộ trưởng Winton Lord mới đây kêu gọi một sự trao đổi quan điểm chân tình các vấn để trên tại hội nghị RAF, và cho các bên có yêu sách đảm nhận việc thương thảo các nội dung tranh chấp càng sớm càng tốt.

131- Chánh sách của Malaysia về các tranh chấp trên biển Đông Nam Á (tháng 3-1995)

Chánh sách của Malaysia về biển Đông Nam Á lúc đầu là phản đối khái niệm liên kết phát triển của Trung Cộng vì nó bao gồm luôn cả các giếng dầu đang khai thác của mình và do hoài nghi dã tâm của Trung Cộng.

Malaysia cũng phản đối yêu sách của Brunei vì đụng chạm đến thềm lục địa của mình. Malaysia cũng nghi ngờ Indonesia đã dùng các nước có yêu sách khác làm trái độn giữa họ và Trung Cộng nhằm tạo ra vị thế lãnh đạo ASEAN. Nhưng rồi sau đó thủ tướng Mahathir Mohamed tỏ ra hòa dịu hơn, muốn xem Trung Cộng là đối tác có thể tin cậy, và từng bước ủng hộ các cuộc đối thoại khu vực do Indonesia bảo trợ.

Tuy nhiên việc Trung Cộng xâm chiếm Mischief Reef tháng 2-1995 làm Malaysia thay đổi lập trường. Quân đội Malaysia được chỉ thị phải tăng cường tuần tra bảo vệ biển đảo. Tổng thư ký Bộ Ngoại giao Malaysia đã yêu cầu đưa vấn đề Mischief Reef lên hội nghị ARF họp tại Brunei tháng 7-1995.

Ngày 23-3-1995, tàu tuần tra hải quân Malaysia đã nổ súng vào một tàu cá Trung Cộng bên ngoài Sarawak, làm bị thương bốn người Trung Quốc. Ngày 23-5-1995, thủ tướng M.Mohamed đi thăm đảo Pulau Layang – Layang do Malaysia chiếm ngụ và tái khẳng định chủ quyền tại đây. Ngày 28-5, Trung Cộng lên tiếng kịch liệt bác bỏ.

Trong năm 1995, Chánh phủ Malaysia tuyên bố đang tiến hành xây dựng cơ sở du lịch trên các điểm họ đang chiếm đóng ở quần đảo Spratly (Trường Sa), gồm: Terumbu Layang-Layang (Hoa Lau), Terumbu Mantanani (Kỳ Vân), Terumbu Ubi (Kiệu Ngựa)…

132- Chánh sách của Singapore về các tranh chấp trên biển Đông Nam Á (tháng 3-1995)

Không có yêu sách chủ quyền biển đảo trên biển Đông Nam Á nên lúc đầu Singapore luôn đứng ngoài các cuộc tranh cãi của láng giềng. Tuy nhiên, việc Trung Cộng xâm chiếm Mischief Reef tháng 2-1995 làm Singapore thay đổi lập trường. Tháng 3-1995, tổng thống Ong Teng Cheong kêu gọi ASEAN thành lập một mặt trận thống nhất phản đối sự xâm lược của Trung Cộng. Thủ tướng Ngô Tác Đống cảnh báo Trung Cộng là việc gia tăng hoạt động quân sự xuống Đông Nam Á đã làm dấy lên mối lo ngại bất ổn trong khu vực. Trả lời phỏng vấn tạp chí Straits Times ngày 10-5-1995, cố vấn Lý Quang Diệu công khai chỉ trích Trung Cộng, và khẳng định sự an toàn và tự do lưu thông trên biển có thể gặp nguy hiểm do xung đột gia tăng hoặc là một bộ phận của biển Asean có nguy cơ biến thành một cái hồ quốc gia của Trung Quốc ngay giữa lòng biển Đông Nam Á.

133- Tranh chấp và hội đàm song phương Philippines – Trung Cộng (3-1995)

Philippines và Trung Cộng thỏa thuận ngày x-3-1995 hai bên sẽ họp song phương. Nhưng trước đó một ngày, Trung Cộng lại cho quân chiếm đóng và dựng các cột mốc mới tại đảo san hô vòng Jackson, rặng đá ngầm Sabina và đảo Half Moon, chỉ cách quần đảo Palawan 70 hải lý về phía tây.

Cuộc hội đàm không đạt được thỏa thuận gì. Sau khi ngừng họp, bộ trưởng quốc phòng Romulo liền cho quân đến nhổ hết các cột mốc Trung Cộng vừa dựng ở Jackson, Sabina và Half Moon. Trung Cộng lại dựng cột mốc mới trên rặng đá ngầm Pennsylvania, vùng bãi cạn Thomas 1 và 2. Philippines phát hiện và lại cho quân nhổ hết các cột mốc. Trung Cộng tuyên bố rằng phá hủy các cột mốc khảo sát của họ cũng không giúp được gì trong giải quyết tranh chấp và cũng không làm mất chủ quyền Trung Cộng tại đây. Phi liền cho dựng ngọn hải đăng trên các vùng yêu sách và cho tàu tuần tiễu sát bên các rặng đá ngầm do Trung Cộng chiếm giữ.

Ngày 25-3-1995, tàu tuần tra Philippines bắt giữ 4 tàu cá chở 62 người Trung Quốc gần bãi cạn Half Moon, cách quần đảo Palawan 50 hải lý về phía tây. Những người này sau đó bị truy tố tội nhập cảnh và đánh bắt cá bất hợp pháp, giết hại sinh vật biển sắp tuyệt chủng và sở hữu chất nổ bất hợp pháp.

Ngày 28-3, quân đội Philippines tuyên bố rất phàn nàn việc kiều dân Trung Cộng vẫn chiếm ngụ trên rặng đá ngầm Mischief. Ngày 30-3, Trung Cộng đòi thả hết ngư dân bị bắt giữ. Vài hôm sau, Philippines tổ chức đưa phóng viên quốc tế thăm khu vực tranh chấp và tuyên bố đang xây hải đăng trên khu vực bờ đá Reed, Nares và Seahorse.

134- Trữ lượng dầu khí tại quần đảo Spratly (22-3-1995)

Tính đến tháng 2-1995, sau khi Trung Cộng chiếm đảo đá ngầm Mischief Reef thuộc quần đảo Spratly (Trường Sa), thì Philippines còn chiếm 7 đảo, 2 bãi và đá. Trung Cộng chiếm 10 bãi và đá. Đài Loan chiếm 1 đảo. Malaysia chiếm 7 bãi và đá. Việt Cộng còn trấn giữ 7 đảo, 16 đá và 3 bãi.

Tạp chí Strategic Comments số 3, ra ngày 22-3-1995, có bài Creeping Irredentism in the Spratly Islands, có đoạn: Không rõ trữ lượng dầu khí ở quần đảo Spratly lớn cỡ nào, ước lượng khoảng từ 1 đến 17,7 tỉ tấn, nhưng nó cũng là yếu tố chánh bao hàm trong các yêu sách chủ quyền trong khu vực. Nhiều nhà chuyên môn cảnh báo rằng với các dữ liệu hạn chế về địa lý và địa hóa trong khu vực quần đảo Spratly cộng với mực nước sâu nói chung cho thấy riêng ở quần đảo này chỉ có trữ lượng khiêm tốn về dầu mỏ và khí đốt có thể khai thác thương mại. Theo quan điểm này, khả năng tồn tại trữ lượng khí thiên nhiên là nhiều hơn, nhưng phải khám phá được mỏ rất lớn thì việc khai thác thương mại mới có hiệu quả. Một số công ty dầu mỏ hàng đầu thế giới có khuynh hướng đánh giá thấp trữ lượng tại đây để có thuận lợi hơn trong các hợp đồng ký kết, ngược lại các chánh phủ (như Trung Cộng, Philippines chẳng hạn) thì cố tình nêu ra con số lạc quan về trữ lượng dầu khí để thu hút đầu tư và tạo sự ủng hộ của dân chúng trong cuộc chiến yêu sách chủ quyền tại khu vực.

Một cuộc khảo sát đầu năm 1995 do Viện Khảo sát địa chất hải ngoại Nga thực hiện theo đặt hàng của Chính phủ Việt Cộng đã ước lượng riêng khu vực đảo Spratly (tức Trường Sa) có thể chứa đến 6 tỉ thùng dầu mỏ quy đổi, trong đó có thể 70% là khí thiên nhiên, tuy nhiên thực tế khai thác được sẽ ít hơn nhiều. Mặc dầu vậy, nơi đây có khoảng 9 km trầm tích thuộc Kỷ Đệ tam và Kỷ Phấn trắng dưới bờ đá Reed và phần địa tầng phô bày cấu trúc đá rỗng, đặc biệt là các phay lồi. Hơn nữa, một vài giếng đã khoan xác nhận sự tồn tại của nguồn chứa khá tốt và các lớp đá chứa dầu. Tuy nhiên do mực nước biển trong khu vực khá sâu và đang trong vùng tranh chấp nên các công ty dầu khí hàng đầu thế giới vẫn ngại ngần vào đây, chưa thể thăm dò kỹ càng và các số liệu về trữ lượng dầu khí trong khu vực hãy còn nhiều điều chưa đồng bộ.

Thật ra, các tranh chấp ở vùng biển Asean không chỉ chủ yếu vì dầu khí, mà vì tầm quan trọng chiến lược của hòn đảo và thêm vào đó là yêu sách chủ quyền lãnh hải. Nếu giả sử khu vực này không có dầu khí thì tranh chấp vẫn xảy ra, nhưng nếu nơi đây thật sự có tiềm năng dầu khí lớn thì mức độ căng thẳng sẽ tăng lên, và nếu các quốc gia trong khu vực không thật tâm xây đắp lòng tin phi quân sự hóa, thậm chí trong vùng chỉ cần có một quốc gia có ý đồ thống trị nham hiểm thì nguy cơ mất an ninh đối với cả khu vực là điều không tránh khỏi.

135- Đài Loan đề nghị cùng khai thác biển Đông Nam Á (12-4-1995)

Ngày 12-4-1995, tổng thống Lý Đăng Huy đề xuất một sự liên kết phát triển đa phương cho vùng biển Đông Nam Á, đặc biệt, còn đề nghị Đài Loan và các nước liên quan cùng góp vốn thành lập một công ty phát triển quốc tế để khai thác tài nguyên cả vùng biển. Ngày 20-8-1995, tổng thống Lý lại khẳng định rằng 12 quốc gia có quyền lợi trong khu vực sẽ được mời đầu tư vào một tổ hợp công ty phát triển biển Nam Hải có vốn 10 tỉ đô la và kêu gọi các bên có liên quan chấm dứt các yêu sách về tranh chấp chủ quyền các đảo vì tương lai của dự án trên. Lợi nhuận của liên doanh sẽ được dùng phát triển hạ tầng cơ sở trong các nước ASEAN.

136- Vòng 4 đàm phán phân định vịnh Bắc Bộ (4-1995)

Vòng 4 cuộc đàm phán phân định vịnh Bắc Bộ tổ chức tại Hà Nội trong tháng 4-1995.

Việt Cộng đề nghị đảo Bạch Long Vĩ cũng có vùng lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế riêng theo quy chế giống như đảo Hải Nam. Phản bác quan điểm của đại diện Trung Cộng cho rằng diện tích của đảo Bạch Long Vĩ quá nhỏ bé và chênh lệch so với đảo Hải Nam, đại diện Việt Cộng trả lời rằng việc so sánh hai đảo này cũng giống như so sánh giữa Việt Nam và Trung Quốc là hai nước hoàn toàn bình đẳng. Tầm quan trọng và giá trị của Bạch Long Vĩ đối với Việt Nam cũng giống như Hải Nam đối với Trung Quốc. Đảo Hải Nam có vùng lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế riêng thì Bạch Long Vĩ cũng phải có như vậy.

137- Đài Loan bắn chìm tàu cá Việt Nam gần đảo Ba Bình (2-5-1995)

Ngày 2-5-1995, tàu hải quân Đài Loan nổ súng bắn chìm một tàu cá Việt Nam đang thả lưới gần đảo Ba Bình (tức Itu Aba, Đài Loan gọi là Taiping Dao) đang do Đài Loan chiếm đóng, làm 8 ngư dân thiệt mạng.

138- Hội nghị ngoại trưởng Trung – Việt tại Bắc Kinh (5-1995)

Tháng 5-1995, bộ trưởng Ngoại giao Việt Cộng sang Bắc Kinh hội đàm với người đồng cấp Tiền Kỳ Thâm. Hai bên ca ngợi các kết quả đàm phán về vịnh Bắc Bộ và thỏa thuận thành lập các nhóm chuyên viên để thúc đẩy các cuộc đàm phán tiến triển. Hai bên đồng ý giải quyết các tranh chấp thông qua thảo luận hòa bình; từ bỏ việc sử dụng và đe dọa sử dụng võ lực; kiềm chế mọi hành động có thể làm trầm trọng thêm tranh chấp; và ngăn ngừa những bất đồng làm ảnh hưởng đến tiến trình phát triển các mối quan hệ song phương. Ngoại trường Thâm bác bỏ các tiên đoán trằng hai nước có thể xung đột tại các vùng tiềm năng dầu khí trong vùng biển Nam Hải (tức Asean), và khẳng định rằng hai nước Trung – Việt tự mình có đầy đủ khả năng giải quyết vấn đề. Tuy nhiên, đôi bên đều công khai lặp lại đòi hỏi chủ quyền đơn phương trên toàn bộ hai quần đảo Paracel và Spratly.

139- Mỹ và Nhật khẳng định bảo vệ hàng hải tự do tại biển Đông Nam Á (10-5-1995)

Ngày 10-5-1995, phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Mỹ tuyên bố: Mỹ sẽ rất quan tâm đến bất cứ một đòi hỏi liên quan đến biển hay ngăn cản hoạt động hàng hải nào ở biển Asean không phù hợp với Luật Biển. Sau đó, một tài liệu của Bộ Quốc phòng Mỹ viết: Mỹ không có quan điểm đúng sai pháp lý về các tuyên bố chủ quyền. Lợi ích chiến lược của chúng ta trong việc duy trì đường thông thương nối liền Đông Nam Á, Đông Bắc Á và Ấn Độ Dương, đòi hỏi chúng ta chống lại các xác lập chủ quyền vượt khỏi điều mà Công ước Luật Biển cho phép.

Ngày 16-6-1995, phụ tá An ninh quốc tế Bộ Quốc phòng Mỹ Joseph Nye khẳng định trong một cuộc họp báo ở Tokyo: Nếu xung đột quân sự xảy ra ở quần đảo Spratly và gây trở ngại đến quyền tự do đi lại trên biển, Mỹ sẽ chuẩn bị sẵn sàng cho việc hộ tống và đảm bảo quyền tự do đi lại trên biển được tiếp tục bình thường.

Như vậy phía Mỹ xác định không can thiệp vào các tranh chấp chủ quyền hải đảo trên biển Đông Nam Á, nhưng khẳng định mối quan tâm và dọa sẽ can thiệp khi việc thiết lập chủ quyền này ngăn cản tự do đi lại trên biển cả trái với Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển 1982.

Chiến lược an ninh mới của Mỹ ở vùng Đông Á – Thái Bình Dương chứa đựng một sự điều chỉnh thái độ trong chánh sách của Mỹ: Mỹ có mối quan tâm chiến lược trong việc duy trì các tuyến hàng hải trong khu vực và cho rằng cần thiết phải chống lại mọi yêu sách hàng hải nào vượt quá mức cho phép của Hiệp định về Luật đường biển hoặc luật pháp quốc tế.

H5Tuyến đường chở dầu trên biển từ vịnh Ba Tư đến Nhật Bản

Những thế lực bên ngoài như Mỹ – Nhật có mối quan tâm rõ rệt về an ninh và kinh tế trong việc giữ thông suốt các tuyến hàng hải tại vùng biển Asean. Các tàu chở dầu của Nhật chuyên chở 70% lượng dầu cung ứng cho Nhật ngang qua vùngbiển Asean. Hạm đội 7 Mỹ và đặc biệt là các tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân cũng cần được vận động tự do và linh hoạt, theo một lộ trình không thể bị rình mò theo dõi trong vùng biển Asean. Vì vậy việc Trung Cộng muốn biến biển Asean thành vùng biển nhà và tha hồ tự tung tự tác không thể nào được Mỹ và Nhật chấp nhận. Nhật tuy không chú trọng phát triển lực lượng hải quân mạnh nhưng Mỹ không thể làm ngơ khi quyền lợi Mỹ – Nhật tại đây bị vi phạm, và họ luôn muốn Trung Cộng phải biết rõ điều đó khi thực hiện sách lược của mình. Chính nhân tố Mỹ – Nhật chứ không ai khác đã làm cho Trung Cộng kềm chế bớt lại những hành động của mình cho không trở nên thái quá, vì theo họ xung đột với Mỹ – Nhật là điều không cần thiết vào lúc này.

Ủng hộ nhận thức này, các nước Đông Nam Á đã cố sức mời Mỹ vào làm trung gian cho những tranh chấp để tránh bị Trung Cộng hiếp đáp. Thượng nghị viện Philippines còn thảo luận xem Hiệp ước Hỗ tương phòng thủ ký với Mỹ có thể áp dụng được trong trường hợp lực lượng Phi bị tấn công tại quần đảo Spratly hay không. Cựu bộ trưởng Mỹ James Baker, người từng tham dự kỳ họp Liên minh cựu bộ trưởng ASEAN 1992 đã viết rằng: Cái mà chỉ là mặt phụ về an ninh trong thời chiến tranh lạnh đang trở thành nhân tố căn bản chủ đạo cho cam kết quốc phòng của chúng ta trong vùng: giữ gìn cân bằng địa chánh trị, trở thành một người môi giới lương thiện, và tái đảm bảo an ninh trước một tình thế không chắc chắn.

Sự hiện diện của máy bay, tàu chiến Mỹ thường xuyên trong vùng biển Asean giờ đây lại là nhân tố duy trì sự ổn định và hòa bình trong vùng. Các nước ASEAN đều cho rằng nếu không có sự hiện diện của Mỹ, các bên tranh chấp sẽ ít bị kềm chế hơn trong việc đòi hỏi và thực thi đòi hỏi của mình bằng võ lực. Mỹ liên tục thúc giục Trung Cộng phải thường xuyên minh bạch hóa các chủ trương, chánh sách của mình và xây đắp lòng tin cho các nước trong khu vực để tránh cuộc chạy đua võ trang ào ạt có thể xảy ra.

140- Quan điểm của Mỹ về biển Đông Nam Á (10-5-1995)

Ngày 10-5-1995, phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Mỹ tuyên bố: Mỹ sẽ rất quan tâm đến bất cứ một đòi hỏi liên quan đến biển hay ngăn cản hoạt động hàng hải ở biển Đông Nam Á không phù hợp với Luật Biển. Sau đó, một tài liệu của Bộ Quốc phòng Mỹ viết: Mỹ không có quan điểm đúng sai pháp lý về các tuyên bố chủ quyền. Lợi ích chiến lược của chúng ta trong việc duy trì đường thông thương nối liền Đông Nam Á, Đông Bắc Á và Ấn Độ Dương, đòi hỏi chúng ta chống lại các xác lập chủ quyền vượt khỏi điều mà Công ước Luật Biển cho phép.

Ngày 16-6-1995, phụ tá bộ trưởng Quốc phòng Mỹ về an ninh quốc tế Joseph Nye nói trong một cuộc họp báo ở Tokyo: Nếu hành động quân sự xảy ra ở quần đảo Trường Sa và ngăn cản tự do đi lại trên biển cả, chúng tôi sẵn sàng hộ tống và đảm bảo cho thông thương tiếp tục. Như vậy phía Mỹ xác định không can thiệp vào các tranh chấp chủ quyền hải đảo trên biển Đông Nam Á, nhưng khẳng định mối quan tâm và dọa sẽ can thiệp khi việc thiết lập chủ quyền này ngăn cản tự do đi lại trên biển cả trái với Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển 1982.

146- Indonesia phản đối yêu sách của Trung Cộng ở biển Đông Nam Á (13-6-1995)

Ngày 13-6-1995, phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Indonesia tuyên bố phản đối đường biên yêu sách của Trung Cộng ở biển Đông Nam Á, vì nó bao trùm mỏ khí thiên nhiên Nutuna và những khu vực mà nước này đã nhượng quyền cho các công ty Mỹ thăm dò khai thác. Trong đó, có Tập đoàn Esson đã ký một hợp đồng trị giá 35 tỷ đô la để phát triển một vài mỏ trong khu vực này. Ngoại trưởng Ali Alatas công khai bày tỏ sự lo ngại về các hành động gần đây của Trung Cộng, đồng thời thúc giục cả Trung Cộng và Philippines giải quyết tranh chấp bằng hòa bình. Indonesia cũng đề nghị các nước ngoài khu vực như Mỹ, Anh, Pháp, Nhật, Nga cùng lên tiếng kêu gọi các bên tranh chấp không dùng võ lực trên biển Đông Nam Á.

147- Tàu Trung Cộng chặn bắt tàu cá Đài Loan ở quần đảo Spratly (11-7-1995)

Ngày 11-7-1995, một tàu tuần tra Trung Cộng chặn lại và kiểm tra hai tàu đánh cá trong vùng quần đảo Spratly. Tuy nhiên khi phát hiện đây là hai tàu của ngư dân Đài Loan, tàu Trung Cộng chỉ nhắc nhở chứ không gây hấn.

148- Việt Cộng là thành viên chánh thức Tổ chức ASEAN (28-7-1995)

Hội nghị thượng đỉnh thường niên ASEAN nhóm họp từ ngày 21 đến 28-7-1995 tại Brunei, gồm nguyên thủ sáu nước thành viên Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan, nhằm kiểm điểm hoạt động nội bộ của khối, kết nạp thành viên mới và chuẩn bị cho Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) bàn luận đối sách giải quyết tranh chấp chủ quyền trong vùng biển Asean.

Cuối kỳ họp thường niên, ngày 28-7, các ngoại trưởng ASEAN ra một thông cáo chung, thúc giục toàn bộ các nước có yêu sách chủ quyền ở biển Asean phải kiềm chế các hành động có thể làm mất ổn định trong khu vực, gồm cả những việc có thể gây phương hại đến quyền tự do đi lại trên biển và không lưu trong vùng bị ảnh hưởng. Thông cáo cũng kêu gọi xây đắp lòng tin và liên doanh hợp tác có lợi đôi bên trong cuộc hội thảo do Indonesia đăng cai.

Ngày 28-7-1995 tại Brunei, diễn ra lễ thượng kỳ, kết nạp Việt Cộng từ quan sát viên trở thành thành viên chánh thức thứ bảy của Tổ chức ASEAN, thay thế vị trí của Việt Nam Cộng Hòa trước đây. Việt Cộng yêu cầu xem mình là thành viên mới thứ 7 của ASEAN chứ không phải thay thế Việt Nam Cộng Hòa.

149- Diễn đàn khu vực ASEAN (22-7-1995)

Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) nhóm họp ngày 22-7-1995 tại Brunei với đại diện cao cấp chánh phủ 19 nước tham dự, gồm các nước có yêu sách chủ quyền tại biển Asean, các nước không yêu sách thuộc Hiệp hội ASEAN và một số cường quốc ngoài khu vực (trong đó có EU, Mỹ, Nhật, Trung Cộng), nhằm thảo luận và nâng cấp tình trạng an ninh trong vùng Đông Á, trọng tâm thảo luận kỳ này là vấn đề tranh chấp chủ quyền trong vùng biển Đông Nam Á.

Thủ tướng Thái Lan Chuan Leekpai tuyên bố là tình hình ở quần đảo Spratly rất khẩn trương, do đó ASEAN phải sử dụng biện pháp ngoại giao ngăn ngừa để tránh đối đầu quân sự. Trung Cộng tái khẳng định chỉ thương thảo song phương để giải quyết tranh chấp trên biển Asean. Lạc quan duy nhất mà ARF đạt được nhất trí cao là tổ chức một giải bóng chuyền giao hữu giữa các đơn vị quân đồn trú trên các đảo do các nước kiểm soát.

Việt Nam, Trung Cộng và Đài Loan đều có yêu sách toàn bộ các đảo, các rặng đá ngầm và các mỏm đá trong vùng quần đảo Spratly. Philippines thì đòi hỏi theo tính chất như trên, nhưng giới hạn trong vùng họ gọi là Kalayaan (Freedomland), cho rằng đó là khu vực sống còn đến kinh tế và an ninh quốc gia.

H6

Cả Việt Nam, Trung Cộng, Đài Loan lẫn Philippines đều yêu sách mọi phần nằm trên lẫn dưới mặt nước biển. Malaysia đòi chủ quyền 7 hòn đảo phía nam quần đảo Spratly vì nó nằm trong ranh với thềm lục địa. Brunei đòi hỏi khu vực đặc quyền kinh tế (EEZ) với một khoảng rộng 200 hải lý theo quy định Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (UNCLOS), có hình dạng như một hành lang kéo dài chánh xác đến phía nam quần đảo Spratly và vượt khỏi 200 hải lý từ bờ biển, bao gồm cả bờ đá Rifleman và một góc nhỏ vùng Kalayaan.

Bộ trưởng Ngoại giao Trung Cộng Tiền Kỳ Thâm khẳng định là Trung Quốc mong muốn lấy luật lệ quốc tế và Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (UNCLOS) làm căn bản cho thương lượng các vấn đề và muốn thảo luận với cả bảy thành viên ASEAN. Như vậy Trung Cộng ra vẻ như đã từ bỏ toàn bộ đường ranh yêu sách theo lịch sử của mình và có lẽ đang chánh thức nghiên cứu sửa đổi yêu sách của mình chỉ bao gồm phần lãnh thổ Đài Loan chiếm từ tay Nhật năm 1945. Đài Loan cũng tỏ vẻ đang nghiên cứu thay đổi các yêu sách của họ chỉ bao gồm những đảo mà Đài Loan và Trung Cộng đã chiếm giữ. Những yêu sách này không bao trùm các tuyến đường biển chủ yếu hay có ảnh hưởng gì đến quyền tự do hàng hải trong khu vực. Ngoại trưởng Tiền cũng lưu ý rằng Trung Quốc luôn gắn liền tầm quan trọng to lớn vào vấn đề an ninh và tự do hàng hải trong khu vực và do đó chắc chắn không có vấn đề nan giải gì trong việc này. Nhưng cuối cùng ngoại trưởng Tiền tuyên bố là Trung Quốc đã có chủ quyền không tranh cãi được trên quần đảo Nam Sa (Spratly) và vùng biển phụ cận, và các đạo luật của Trung Quốc đã khẳng định chủ quyền sẽ giữ nhiệm vụ trong giải quyết vấn đề.

Philippines tuyên bố ủng hộ giải pháp đa phương hóa vấn đề tranh chấp chủ quyền trên biển Asean thông qua tiến trình hội nghị ở Indonesia, và đề nghị cùng liên kết khai thác với cả Việt Cộng lẫn Trung Cộng.

150- Công ty Mobil khoan giếng thứ nhì tại vùng mỏ Thanh Long (5-8-1995)

Ngày 5-8-1995, theo giấy phép nhượng quyền của Việt Cộng cấp, công ty Mobil của Mỹ bắt đầu khoan giếng thăm dò thứ nhì tại vùng mỏ Thanh Long (Dragon field).

151- Bản quy tắc ứng xử Trung Cộng – Philippines (8-1995)

Sau khi Việt Cộng được kết nạp vào ASEAN tháng 7-1995 và xem như chánh thức không còn bị cô lập nữa, Trung Cộng cũng muốn xoa dịu mối quan hệ và tạo lòng tin với các nước ASEAN để tránh việc Việt Cộng liên kết với các nước ASEAN tập trung chống lại mình.

Đầu tháng 8-1995, Trung Cộng và Philippines ký kết bộ quy tắc ứng xử (code of conduct) gồm 8 nguyên tắc, trong đó cam kết không sử dụng võ lực để giải quyết tranh chấp song phương, nhằm tránh những vụ va chạm tiếp theo trên biển Asean và tăng cường hợp tác trên biển. Quy tắc ứng xử này được gửi đến khối ASEAN xem xét với hy vọng rằng hiệp nghị trên sẽ trở thành căn bản cho một quy tắc ứng xử toàn khu vực. Hai nước cũng đồng ý áp dụng bộ luật UNCLOS và luật quốc tế để giải quyết tranh chấp, lập ra danh sách nhóm chuyên viên để bàn thảo về cơ sở pháp lý yêu sách đôi bên và xem xét liên kết hợp tác trong lãnh vực khí tượng, an ninh hàng hải, chống hải tặc, nghiên cứu và bảo vệ môi trường biển. Trung Cộng cho phép ngư dân Phi tiếp cận các công trình xây dựng trên Mischief Reef, đổi lại Phi cũng thả ngư dân Trung Cộng đang bị bắt giữ.

152- Trung Cộng tranh giành vịnh Bắc Bộ (19-10-1995)

Ngày 19-10-1995, Trung Cộng gửi công hàm chánh thức phản đối Việt Cộng tổ chức thăm dò địa chấn trong vịnh Bắc Bộ. Việt Cộng thì phân trần mình hoạt động tại khu vực sát bờ biển Việt Nam và hoàn toàn thuộc chủ quyền lãnh hải Việt Nam.

153- Hội thảo kỳ 6 về biển Đông Nam Á (tháng 10-1995)

Hội thảo kỳ 6 về quản lý xung đột hàng hải trong vùng biển Đông Nam Á nhóm họp (tháng 10-1995).

154- Hải quân Trung Cộng tập trận tại quần đảo Spratly (cuối năm 1995)

Cuối năm 1995, Hải quân Trung Cộng tổ chức một cuộc tập trận tại quần đảo Spratly (tức Trường Sa).

155- Trung Cộng tranh giành vịnh Bắc Bộ (15-12-1995)

Ngày 15-12-1995, Trung Cộng đưa dàn khoan Nam Hải 2 vào vịnh Bắc Bộ, khoan thăm dò cách đường trung tuyến từ năm đến sáu hải lý về phía Việt Nam.

156- Tình hình Đông Nam Á giữa thập niên 1990 (khoảng 1996)

Sau chiến tranh lạnh, vùng Đông Nam Á rơi vào trạng thái biến động mạnh mẽ về địa chánh trị. Sau khi Liên Xô sụp đổ làm cho vấn đề Afganistan và Cambodia tạm được giải quyết, nước Mỹ dưới thời tổng thống Bill Clinton (1993-2001) tập trung chủ yếu vào các vấn đề quốc nội và châu Âu để hầu như kết thúc mọi sứ mạng quân sự trong vùng Đông Nam Á và giảm đến mức thấp nhất kể từ Đệ nhị thế chiến sự hiện diện của Nền hòa bình kiểu Mỹ (Pax Americana) trong khu vực châu Á của Thái Bình Dương. Quan hệ và ảnh hưởng của Mỹ với cả bốn cường quốc hàng đầu châu Á là Trung Cộng, Nga, Nhật Bản và Ấn Độ đều bị xuống cấp. Lãnh đạo các nước Đông Nam Á thấy rõ là về lâu về dài, Mỹ sẽ không còn là chỗ dựa cho sự ổn định khu vực và nếu không có Mỹ thì các nước trong vùng sẽ ít bị kềm chế hơn trong việc khẳng định chính mình, càng đẩy mạnh các yêu sách lãnh thổ và hàng hải. Trong những thế lực mạnh nhất ở Châu Á thì Trung Cộng với ý đồ nham hiểm lâu dài và phía sau là hai chư hầu hiếu chiến là Việt Cộng và Triều Cộng ngày càng cùng nhau trở thành thế lực nguy hiểm đe dọa sự tồn tại của các quốc gia đơn chiếc trong vùng.

Nhưng cũng cùng lúc đó, hơn lúc nào hết ở Đông Nam Á lại có một cơ hội lớn xây đắp nền hòa bình và phát triển tương đối lâu dài khi các mối hiểm họa trước đây như Nga, Trung Cộng, Việt Cộng, đều muốn phải vươn lên vị trí cao hơn về kinh tế trong khu vực và thế giới, nên phải tạm gác lại các ý đồ bành trướng truyền thống. Nước Việt Nam cộng sản ở trong thời kỳ thế lực yếu ớt nhất trong lịch sử tồn tại của nó nên vừa ra sức nịnh bợ Trung Cộng, Mỹ, Nhật, vừa làm lành với các nước ASEAN để mong được tồn tại và phát triển.

Tuy nhiên, cổ nhân có nói: ‘muốn làm bạn tốt thì trước đó đừng nên là kẻ thù của nhau’. Giữa các hạt nhân trong vùng đã từng có mâu thuẫn đối kháng như: Trung Cộng – Việt Cộng, Trung Cộng – ASEAN, Việt Cộng – ASEAN, và thế hệ tuổi trẻ trực tiếp đối đầu ‘có nợ máu’ năm xưa nay lại đang trong thời kỳ nắm vận mệnh mỗi quốc gia, nên giữa các nước cựu thù trong vùng với nhau dù có tung hô hợp tác thế nào thì bên trong cũng luôn đầy ngờ vực và chắc chắn làm giảm đi hiệu quả và chất lượng của mọi sự hòa giải và hợp tác, làm trở ngại việc xây dựng cấu trúc an ninh đa phương.

Tóm lại, trong thời hậu chiến tranh lạnh, giữa các nhóm nước ASEAN, Đông Dương, Trung Cộng vừa có sự tăng cường hợp tác và phát triển mạnh mẽ trước mắt, vừa có sự tăng cường khả năng phòng thủ và tranh giành ngấm ngầm để đạt ý đồ lâu dài. Nhóm nước ASEAN cũ (Indonesia, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Philippines, Brunei) vừa cố tiến mạnh về kinh tế, vừa ngấm ngầm liên kết nhau tăng cường binh lực để đủ sức tự vệ. Nhóm cộng sản và chuyên chế (Trung Cộng, Việt Cộng, Lào Cộng, Cambodia, Miến Điện) cố sức phát triển kinh tế để đủ sức thực hiện lý tưởng chủ nghĩa Marx dùng võ lực bành trướng chủ nghĩa cộng sản ra khu vực và thế giới.

Trong bối cảnh đó, vùng biển chung ASEAN, mà Việt Nam gọi là Biển Đông, Trung Cộng gọi là Nam Hải, một số nước gọi là South China Sea và các quần đảo trong đó: quần đảo Paracel (Việt Nam gọi là Hoàng Sa, Trung Cộng gọi là Tây Sa), quần đảo Spratly (Việt Nam gọi là Trường Sa, Trung Cộng gọi là Nam Sa) trở thành đối tượng tranh chấp quyết liệt trong vùng, để mong giành ưu thế về lãnh hải, đường hàng hải và trữ lượng dầu khí, khoáng sản, hải sản hàng đầu trong khu vực.

Tính đến năm 1996, không kể quần đảo Paracel đã bị Trung Cộng chiếm trọn từ năm 1974, tại quần đảo Spratly có đến sáu nước Việt Cộng, Trung Cộng, Đài Loan, Philippines, Malaysia, Brunei chia nhau chiếm giữ xen kẻ nhau, tình thế rất phức tạp, nên sẽ đến một lúc nào đó, khi một nước trở nên quá mạnh (như Trung Cộng chẳng hạn) lấn át hẳn các nước còn lại thì tất yếu sẽ nổ ra một cuộc chiến tranh khu vực để độc chiếm trọn cả vùng biển đảo.

Không chỉ dừng lại ở đó, khi có các nhân tố sau đây can dự vào: một là nhân tố liên kết của các nước ASEAN liên quan, hai là nhân tố Liên Hiệp Quốc, ba là các nhân tố Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ… để bảo vệ công lý quốc tế và con đường hàng hải thương mại tự do thì cục diện sẽ phức tạp hơn nhiều.

H7Tình hình các nước chiếm đóng quần đảo Spratly năm 1996

Ở Trường Sa, Việt Nam trấn giữ 21 đảo. Trung Cộng chiếm 10 đảo. Philippines chiếm 8 đảo. Malaysia chiếm 3 đảo. Đài Loan chiếm 1 đảo lớn nhất là đảo Taiping (Thái Bình; Việt Nam gọi là Ba Bình), đã xây dựng một bến cảng, một sân bay và đóng 800 quân đồn trú.

Các nước yêu sách đã nỗ lực bênh vực cho đòi hỏi của mình bằng mọi cách: sử dụng sức mạnh quân sự chiếm đóng; tuyên truyền; vận động nước khác ủng hộ; đe dọa; chiếm đóng và gia cố các đảo nhỏ; xây dựng công trình kiên cố trên các vùng đá ngầm; lập các công trình và cột mốc trên các đảo; thành lập các trạm nghiên cứu khoa học giả như được ủy nhiệm bởi các tổ chức quốc tế; ban hành các đạo luật và thể hiện thành chánh sách quốc gia; sáp nhập khu vực vào một tỉnh gần kề; ấn hành các bản đồ thể hiện các yêu sách; đưa ra các tài liệu lịch sử chứng minh cho yêu sách của mình và phản bác yêu sách của nước khác; cho phép du khách và phóng viên thăm viếng đảo; vấp quyền nhượng địa cho các công ty dầu mỏ ở các vùng tranh chấp…

Trong việc sử dụng võ lực, Nhật Bản đã cho quân cưỡng chiếm đảo Ba Bình đang do Pháp và Việt Nam trấn giữ năm 1940, rồi khi Nhật đầu hàng đồng minh thì Đài Loan chiếm từ tay Nhật năm 1956. Trung Cộng đã cho quân cưỡng chiếm quần đảo Paracel (tức Hoàng Sa) đang do Việt Nam Cộng Hòa trấn giữ năm 1974, cưỡng chiếm một số đảo thuộc quần đảo Spratly (tức Trường Sa) đang do Việt Cộng trấn giữ năm 1988. Malaysia đã cho quân bắt giữ ngư dân Philippines trong khu vực có tranh chấp giữa hai nước. Philippines cho quân bắt giữ ngư dân Trung Cộng đang hoạt động gần các đảo họ đang chiếm đóng.

157- Tài liệu của giáo sư Ji Guo Xing về lãnh hải Việt Nam (1996)

Tài liệu Nghiên cứu chánh sách năm 1996 của giáo sư Ji Guo Xing, giám đốc Phân khoa Châu Á – Thái Bình Dương thuộc Viện Quốc tế học Thượng Hải xác nhận: Chỉ cần tính từ đảo Bạch Long Vĩ của Việt Nam nằm giữa vịnh như đường cách đều (a line of equidistance) theo Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 thì Việt Nam sẽ đòi thêm được một vùng biển rộng lớn 1.700 hải lý vuông (additional 1,700 nm2 of marine territory to Vietnam) trong vịnh Bắc Bộ.

158- Giao thương mại giữa Việt Cộng với ASEAN và Trung Cộng (1996)

Từ năm 1990 đến 2000, thương mại Việt Cộng và ASEAN tăng với tốc độ trung bình 26,8% hàng năm và đến 1995 chiếm 32,4% kim ngạch ngoại thương của Việt Cộng. Đến tháng 6-1997, các nước ASEAN đã có 331 dự án đầu tư ở Việt Cộng với số vốn 7,9 tỉ USD, nhiều nhất là Singapore, rồi đến Malaysia, Thái Lan, Indonésia, Philippines, Brunei.

Ngày 31-1-1996, Việt Cộng và Trung Cộng ký biên bản hội đàm về khôi phục liên vận hành khách, hàng hóa trên đường sắt Việt Nam-Trung Quốc. Ngày 14-2-1996, mở lại đường sắt Hà Nội – Bắc Kinh.

159- Trung Cộng tranh giành vịnh Bắc Bộ (10-3-1996)

Ngày 10-3-1996, Trung Cộng đưa dàn khoan Nam Hải 6 vào vịnh Bắc Bộ, khoan thăm dò cách đường trung tuyến ba hải lý về phía Việt Nam.

160- Việt Cộng hợp tác nhượng quyền dầu khí với công ty Conoco (10-4-1996)

Ngày 10-4-1996, Perto Việt Nam và công ty Conoco (Mỹ) ký hợp đồng thuê thăm dò, khai thác dầu khí trên thềm lục địa phía nam. Cùng lúc đó, Bộ Ngoại giao Việt Cộng đòi các công ty đã ký hợp đồng khai thác với Trung Cộng phải ngừng hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí tại vùng thềm lục địa Việt Nam.

161- Quốc hội Trung Cộng phê chuẩn công ước luật biển (15-5-1996)

Ngày 15-5-1996, Uỷ ban thường vụ Quốc hội Trung Cộng khóa 8 phê chuẩn Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS). Cùng ngày đó, Quốc vụ viện Trung Cộng ban hành ‘Quy định về hệ thống đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải’, bao gồm cả quần đảo Tây Sa (tức Hoàng Sa của Việt Nam); trong đó công bố một phần đường cơ sở của Trung Quốc lục địa và đường cơ sở thẳng của quần đảo Tây Sa.

162- Ý kiến học giả quốc tế về tranh chấp chủ quyền trên biển Đông Nam Á (22-5-1996)

Về vấn đề tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, hầu hết các nhà khoa học và luật gia quốc tế đều đã tỏ rõ quan điểm ủng hộ chủ quyền của Việt Nam.

Theo Đài RFI đêm 22-5-1996, trong cuốn sách Chủ quyền trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, vừa được Nhà xuất bản L’Harmattan, Paris phát hành, tác giả Monique Gendreau, nữ giáo sư về công pháp và khoa học chánh trị tại Đại học Paris 7, đã khẳng định rằng: Trong tất cả các nước có tranh chấp chủ quyền, chỉ có Việt Nam là nước duy nhất có được một cơ sở pháp lý rõ rệt, cho dù ở những mức độ khác nhau, tùy theo đó là Hoàng Sa hay Trường Sa. Bà Monique Gendreau khi trả lời phỏng vấn Đài RFI đã nêu rõ: Trong các cuộc điều tra nghiên cứu của tôi, tôi không thấy Trung Quốc có những chứng từ lịch sử lâu đời tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Như ghi trong lịch sử trước đây của họ, Trung Quốc biết đến vùng quần đảo này vì họ là những người thành thạo nghề đi biển nhưng họ chưa bao giờ đưa ra những diều kiện của những chứng tích chủ quyền trên hai quần đảo này. Ngược lại, ngay từ thời các vua chúa triều Nguyễn, nghĩa là từ thế kỷ 17, trong các tập sử biên niên cho thấy, Việt Nam đã thành lập những công ty hàng hải quốc gia, đi đến các quần đảo để khai thác các nguồn tài nguyên. Do đó có thể nói có một chứng tích rõ ràngvà từ rất lâu đã có tàu của hai công ty hàng hải Việt Nam đến Hoàng Sa và Trường Sa. Tuy nhiên vì Trường Sa có một diện tích rất rộng cho nên không rõ chứng tích về chủ quyền của Việt Nam bao nhiêu, bao gồm toàn bộ quần đảo hay chỉ một vài hòn đảo lớn. Đó là thời kỳ lịch sử trước đây.

Bước qua thời thuộc địa, Pháp đã tuyên bố chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa với lý do thừa kế chủ quyền do các vua triều Nguyễn lập nên. Tuy nhiên đối với Trường Sa, vì không hiểu rõ tài liệu của các vua Nguyễn, cho nên Pháp tuyên bố là người đầu tiên chiếm giữ các đảo Trường Sa, là những đảo mà họ cho là chính họ khám phá ra và chiếm đóng. Pháp đã tuyên bố chủ quyền trước khi chiến tranh bùng nổ, do đó đã có những chứng từ của Pháp dựa trên những biện pháp pháp lý khác nhưng rất cụ thể. Cho nên ngày nay Việt Nam có thể có chủ quyền căn cứ trên những chứng từ của Pháp và các vua Nguyễn ngày trước thời Pháp thuộc.

Một số nước khác như Đài Loan, Philipinnes, Brunei cũng có chiếm giữ một số hòn đảo trên quần đảo Trường Sa. Họ đều nhận có chủ quyền trên quần đảo này và được quyền đóng trên một vài hòn đảo; nhưng phải nói trong các nước kể trên, chỉ riêng Việt Nam là có chứng tích lâu đời. Các nước khác tôi không thấy gì cả. Họ chỉ mới đến chiếm một số hòn đảo gần đây thôi, như Philippines chỉ đến Trường Sa từ sau Đệ nhị thế chiến. Do đó chủ quyền của họ chỉ là chủ quyền trên thực tế do họ chiếm đóng chứ không dựa trên một chứng tích pháp lý nào cả.

Như bà M. Gendreau nói, chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa như vậy có đầy đủ cơ sở pháp lý. Trong trường hợp này, luật quốc tế có thể giúp ích gì trong việc tìm ra giải pháp cho cuộc tranh chấp trong bối cảnh vùng biển Đông Nam Á sức mạnh dường như đang lấn lướt luật pháp?

Bà M. Gendreau viết tiếp: Những điều vừa nói đã phản ánh điều mà ta có thể gọi là cuộc khủng hoảng của ngành công pháp quốc tế hiện nay. Quốc tế đưa ra những nguyên tắc nhưng lại không có phương tiện, không có định chế, không có thẩm quyền để buộc các nước áp dụng. Về mặt nguyên tắc, rõ ràng theo công pháp quốc tế, người ta không có quyền vùng võ lực để chiếm một vùng đất nào đó, do đó chủ quyền pháp lý trên một vùng đất không thể bắt nguồn từ việc chiếm đóng quân sự. Ngày nay ,trong bối cảnh luật quốc tế còn yếu, không thể có một giải pháp pháp lý hoặc định chế, bởi vì trong trường hợp như các cuộc tranh chấp chủ quyền ở biển Asean, các quốc gia phải thương thuyết. Đối với Trường Sa cũng vậy, có lẽ Trung Quốc sẽ bị buộc phải thương thuyết, vì Trường Sa liên quan đến nhiều nước hơn, và lại ở xa Trung Quốc hơn. Do đó trong bối cảnh một cuộc tranh chấp như ở vùng biển Asean, chỉ có một cách làm cho tình hình trở thành khách quan. Tức mở ra một cuộc tranh luận trước các cơ quan pháp lý, tức trước các thẩm phán có đủ năng lực và thái độ trung lập cần thiết để giải quyết vấn đề. Hiện nay cũng có những thẩm phán chuyên về luật quốc tế, như các thẩm phán của Tòa án quốc tế La Haye, cho dù việc đưa ra một vấn đề ra trước Tòa án quốc tế La Haye đòi hỏi phải có sự đồng ý của tất cả các nước có liên quan. Một quốc gia không thể bị đưa ra trước Tòa án La Haye mà không có sự đồng ý của quốc gia này, và điều này chính là điểm thiếu sót rất lớn trong luật pháp quốc tế. Không những thế, Trung Quốc không chấp nhận một sự tài phán quốc tế với các trọng tài mà các quốc gia chỉ định. Tóm lại, chúng ta đang đứng trước ngõ cụt, phản ánh các thiếu sót trong luật pháp quóc tế, và chúng ta cần phải mở một phong trào vận động quốc tế để buộc các quốc gia chấp nhận thẩm quyền xét xử trong tòa án quốc tế. Và nếu được như thế, đó sẽ là một tiến bộ rất lớn…

163- Tuyên bố của thủ tướng Malaysia về các đảo chiếm đóng (27-6-1996)

Ngày 27-6-1996, phát biểu tại buổi khai mạc Chương trình thị trường du lịch Langkawi, thủ tướng Malaysia Mahathir Mohamad nói rằng, các đảo san hô ở Biển Đông Nam Á mà Malaysia đã xây dựng các kết cấu nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Malaysia, và như vậy Malaysia không hề xâm phạm lãnh thổ của quốc gia nào cả. (TTXVN, Tin Nhanh, ngày 28-6-1996)

164- Tàu Philippines và tàu Trung Cộng đụng độ trên biển Đông Nam Á (tháng 7-1996).

Ngày x-7-1996 xảy ra cuộc đụng độ giữa tàu chiến Trung Cộng và tàu chiến Philippines ở khu vực gần bãi cạn Scarborough (Hoàng Nham), thuộc quần đảo Spratly (Trường Sa). Hải quân Philippines đã bắt giữ tàu cá và tàu nghiên cứu hải dương Trung Cộng, bắn súng cảnh cáo tàu chiến và triệt hạ cột mốc lãnh thổ do Trung Cộng vừa mới dựng lên trên bãi cạn Scarborough.

Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN lần thứ 29 tại Jakarta, họp vào hai ngày 20, 21-7-1996, đã ra Tuyên bố chung bày tỏ quan ngại trước những diễn biến trên Biển Đông Nam Á, và nhấn mạnh những diễn biến đó đòi hỏi có một Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông để duy trì ổn định trong khu vực và thúc đẩy sự hiểu biết giữa các quốc gia.

165- Huyện đảo Hoàng Sa thuộc thành phố Đà Nẵng (6-11-1996)

Ngày 6-11-1996, Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa 9 Việt Cộng ra nghị quyết tách huyện đảo Hoàng Sa ra khỏi tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng cũ, để sáp nhập vào thành phố Đà Nẵng trực thuộc trung ương mới thành lập. Tuy vậy đến lúc này toàn bộ quần đảo Hoàng Sa vẫn đang do Trung Cộng chiếm đóng.

166- Quan hệ Mỹ – Việt Cộng (tháng 2-1997)

Cuối tháng 2-1997, một phái đoàn Bộ Quốc phòng Việt Cộng gồm 6 viên đại tá đã sang Washington để thảo luận với Bộ Quốc phòng Mỹ về việc cải thiện quan hệ quân sự giữa hai nước, trong đó có vấn đề tân trang võ khí cho quân đội Việt Cộng.

167- Trung Cộng khiêu khích Việt Cộng (tháng 3-1997)

Đầu tháng 3-1997, phía Trung Cộng đưa một giàn khoan thăm dò dầu khí đến hoạt động ngay trong vùng lãnh hải Việt Nam, ngoài khơi phía đông cách cửa Thuận An (Huế) chỉ khoảng 60 hải lý. Phía Việt Cộng phản đối chiếu lệ nhưng không có hành động nào phản kháng. Sau khi thăm dò lòng biển khoảng 4 tháng, Trung Cộng rút giàn khoan này.

168- Quan hệ Mỹ – Việt Cộng (20-3-1997)

Ngày 20-3-1997, một phái đoàn quân sự Mỹ do đô đốc Joseph Prueher, tư lệnh Quân lực Mỹ tại Thái Bình Dương dẫn đầu, sang thăm Bộ Quốc phòng Việt Cộng (Hà Nội) trong ba ngày đễ cải thiện quan hệ quân sự, trong đó có vấn đề tìm kiếm người Mỹ mất tích trong chiến tranh tại Việt Nam.

169- Hiệp định về phân định ranh giới trên biển trong vịnh Thái Lan (9-8-1997)

Ngày 9-8-1997 tại Bangkok, hai bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Cộng và Thái Lan đã ký Hiệp định về phân định ranh giới trên biển trong vịnh Thái Lan. Nội dung bản hiệp định bằng Việt ngữ như sau:

Hiệp định giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Thái Lan về phân định ranh giới trên biển giữa hai nước trong vịnh Thái Lan.

Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Thái Lan, dưới đây gọi là “Các Bên ký kết”;

Xuất phát từ mong muốn củng cố quan hệ hữu nghị sẵn có giữa hai nước;

Nhằm thiết lập đường ranh giới trên biển giữa hai nước trong Vịnh Thái Lan tại khu vực chồng lấn tạo bởi yêu sách thềm lục địa của hai nước;

Đã thỏa thuận như sau:

Điều 1- 1. Đường ranh giới trên biển giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Thái Lan tại khu vực chồng lấn tạo bởi yêu sách thềm lục địa của hai nước là đường thẳng nối Điểm C và Điểm K được xác định theo vĩ độ và kinh độ dưới đây:

Điểm C: Vĩ độ 07049’00” Bắc – Kinh độ 103002’30” Đông

Điểm K: Vĩ độ 08046’54.7754” Bắc – Kinh độ 102012’11.5342” Đông.

  1. Điểm C là điểm cực Bắc của Vùng Phát triển chung được xác lập theo Thỏa thuận giữa Vương quốc Thái Lan và Malaysia về việc thành lập Cơ quan Quyền lực chung Khai thác Tài nguyên Đáy biển trong Khu vực Thềm lục địa chồng lấn giữa Hai nước trong Vịnh Thái Lan, ký tại Chiêng Mai ngày 21 tháng 2 năm 1979, và đồng thời trùng với Điểm 43 của đường yêu sách thềm lục địa do Malaysia công bố năm 1979.
  2. Điểm K là một điểm nằm trên đường ranh giới trên biển giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Cămpuchia, tức là một đường thẳng cách đều giữa đảo Thổ Chu và đảo Vai vẽ từ điểm O (vĩ độ 09035′.00.4159” Bắc và kinh độ 103010’15.9808” Đông).
  3. Tọa độ của các điểm xác định tại các Khoản nói trên là tọa độ địa lý tính toán trên Hải đồ của Anh số 2414 được đính kèm theo như một Phụ lục của Hiệp định này. Hệ tọa độ sử dụng để đo đạc và tính toán được xác lập trên Ellipsoid Everest-1830-Indian Datum.
  4. Đường biên giới trên biển nêu tại Khoản 1 nói trên sẽ là đường ranh giới giữa thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và thềm lục địa của Vương quốc Thái Lan, và cũng sẽ là đường ranh giới giữa vùng đặc quyền kinh tế của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và vùng đặc quyền kinh tế của Vương quốc Thái Lan.
  5. Khi có yêu cầu của một trong hai Chính phủ, vị trí thực tế trên biển của các điểm C và K nói trên và của đường thẳng nối các điểm này sẽ được xác định theo phương pháp thỏa thuận giữa các chuyên gia đồ bản do hai Chính phủ chỉ định.

Điều 2- Các Bên ký kết sẽ đàm phán với Chính phủ Malaysia để giải quyết khu vực thềm lục địa chồng lấn giữa 3 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Vương quốc Thái Lan và Malaysia, khu vực này nằm trong Vùng phát triển chung được xác lập theo Thỏa thuận giữa Vương quốc Thái Lan và Malaysia về việc thành lập Cơ quan Quyền lực chung Khai thác Tài nguyên đáy biển trong Khu vực Thềm lục địa chồng lấn giữa Hai nước trong Vịnh Thái Lan, ký tại Chiêng Mai ngày 21 tháng 2 năm 1979.

Điều 3- Các Bên ký kết công nhận và thừa nhận quyền tài phán và quyền chủ quyền của mỗi nước đối với vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế theo đường ranh giới trên biển được xác lập bởi Hiệp định này.

Điều 4- Trong trường hợp có một cấu tạo mỏ dầu hoặc khí tự nhiên, hoặc các mỏ khoáng sản khác nằm vắt ngang đường ranh giới nêu tại Khoản 1 Điều 1, Các Bên sẽ thông báo cho nhau mọi thông tin liên quan và thỏa thuận về cách thức khai thác hữu hiệu nhất các cấu tạo hoặc mỏ nói trên, lợi nhuận thu được từ việc khai thác sẽ được phân chia công bằng.

Điều 5- Mọi tranh chấp giữa Các Bên ký kết liên quan đến việc giải thích và áp dụng Hiệp định này sẽ được giải quyết một cách hòa bình thông qua đàm phán hoặc thương lượng.

Điều 6- Hiệp định này sẽ có hiệu lực vào ngày trao đổi Văn kiện Phê chuẩn hoặc Phê duyệt, phù hợp với thủ tục luật pháp của mỗi nước.

Để làm bằng, các đại diện được ủy quyền hợp thức của hai Chính phủ đã ký Hiệp định này.

Hiệp định này làm tại Băng-cốc ngày 9 tháng 8 năm 1997 thành hai bản bằng tiếng Việt, tiếng Thái và tiếng Anh. Trong trường hợp có sự khác biệt giữa các văn bản, bản tiếng Anh sẽ được dùng làm căn cứ.

Thay mặt Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nguyễn Mạnh Cầm, bộ trưởng Bộ Ngoại giao.

Thay mặt Chính phủ Vương quốc Thái Lan, Prachuab Chaiyasan, bộ trưởng Bộ Ngoại giao.

H8

Nhận định về Hiệp định này, trang Bách khoa toàn thư mở Wikipedia (wikipedia.org) viết: Hiệp định đã chấm dứt một phần tư thế kỷ tranh cãi giữa Việt Nam và Thái Lan về giải thích và áp dụng luật biển trong phân định vùng chồng lấn giữa hai quốc. Đây là hiệp định phân định biển đầu tiên đạt được trong vịnh Thái Lan, là hiệp định phân định biển đầu tiên được ký kết tại khu vực Đông Nam Á sau khi Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982 có hiệu lực, đồng thời cũng là hiệp định về phân định toàn bộ các vùng biển đầu tiên trong khu vực. Đối với Việt Nam, đây là Hiệp định phân định biển đầu tiên đạt được với các nước láng giềng. Theo hiệp định, đảo Thổ Châu được hưởng 32,5% hiệu lực, Việt Nam được hưởng 1/3 diện tích và Thái Lan được hưởng 2/3 diện tích của 6.074 km² vùng biển chồng lấn.

170- Việt Cộng đuổi tàu Trung Cộng xâm lấn lãnh hải (12-1997)

Tháng 12-1997, Việt Cộng phản đối tàu khai thác số 8 và hai tàu hộ vệ 615 và 616 của Trung Cộng thăm dò khảo sát dầu khí cách 15 hải lý phía tây bãi Phúc Tần, thuộc khu vực DK1 – bãi Tư Chính của Việt Nam. Tàu hải quân Việt Cộng đã áp tải xua đuổi các tàu này ra ngoài.

171- ASEAN nhất trí xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông Nam Á (16-12-1998)

Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 6 tại Hà Nội vào hai ngày 15, 16-12-1998, lãnh đạo các thành viên ASEAN nhất trí xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông Nam Á (DOC).

172- Trung Cộng xâm lấn hải phận Việt Nam (6-4-1998)

Ngày 2-4-1998, Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Trung Quốc sang thăm hữu nghị Việt Cộng.

Bốn ngày sau (6-4-1998), tàu Hải Dương 4 của Trung Cộng tiến hành thăm dò ở phía nam Hoàng Sa, cách đường cơ sở của Việt Nam 155 hải lý.

Tháng 4-1998, hai tàu chiến của Trung Cộng số 697 và 772 đi sâu vào vùng biển của Việt Nam ở vịnh Bắc Bộ, cản trở hoạt động của hai tàu khảo sát địa chấn GECOECHO của Việt Cộng.

173- Đài Loan tuyên bố chủ quyền các đảo trên biển Đông Nam Á (29-4-1998)

Tháng 4-1998, được Trung Cộng ngấm ngầm hậu thuẫn và xúi giục Chánh phủ Đài Loan ra tuyên bố đòi chủ quyền các đảo trong vùng biển Đông Nam Á.

Ngày 29-4-1998, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Cộng trả lời Thông tấn xã Việt Nam về tuyên bố của phía Đài Loan liên quan đến chủ quyền đối với các quần đảo ở Biển Đông, khẳng định hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa là bộ phận của lãnh thổ Việt Nam, về mặt lịch sử cũng như pháp lý, chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo này là không thể tranh cãi được.

174- Tuyên bố của Bộ Ngoại giao Việt Cộng (tháng 9-1998)

Ngày 4-9-1998, phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Việt Cộng Phan Thúy Thanh ra tuyên bố Việt Nam có chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, nhân trả lời Thông tấn xã Việt Nam hỏi về tin đưa trên báo Dầu Mỏ Hải Dương của Trung Cộng liên quan đến việc Trung Cộng tiến hành điều tra khoa học tổng hợp về quần đảo Trường Sa và vùng phụ cận nằm sâu trong khu vực thềm lục địa Việt Nam thuộc bãi Tư Chính.

Ngày 9-9-1998, phát ngôn nhân Phan Thúy Thanh ra tuyên bố ‘nêu rõ lập trường đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa’ nhân dịp người phát ngôn bộ Ngoại giao Trung Cộng phản đối Việt Cộng đưa quân đến chiếm 2 bãi ngầm thuộc quần đảo Trường Sa. Trong tháng 9-1998, Việt Cộng cũng phản đối sau khi Trung Cộng tuyên bố công ty Crestone và Trung Cộng tiếp tục thăm dò ở khu vực quần đảo Trường Sa.

175- Trung Cộng xâm lấn hải phận Philippines (10-1998)

Tháng 10-1998, Trung Cộng cho công binh hải quân xây củng cố các công trình kiên cố trên dải Vành Khăn. Việc này làm Philippines phản đối kịch liệt.

Năm 1998, Mỹ và Philippines ký Hiệp định thăm viếng quân sự (visiting forces agreement).

176- Trung Cộng – Đài Loan ra luật về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa (1998)

Năm 1998, cả Trung Cộng và Đài Loan đều công bố Luật về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Theo đó, một lần nữa chánh thức thể hiện quan điểm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đều có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng mà họ thường gọi là vùng nước phụ cận.

177- Hải quân Trung Cộng tấn công khu nhà  giàn DK1 (13-12-1998)

Đêm 12 rạng sáng 13-12-1998, Hải quân Trung Cộng huy động 7 tàu chiến và 2 trực thăng bao vây và bắn phá vào khu vực nhà giàn DK1 của Việt Cộng đặt tại các đảo Phúc Tần, Phúc Nguyên, Huyền Trân, Tư Chính, Quế Đường, Ba Kè thuộc vùng biển phía tây nam quần đảo Trường Sa.

Cuộc tấn công bất ngờ làm nhà giàn 2A/DK1-6 ở đảo Phúc Nguyên sập đổ, 3 người chết tại chỗ, 6 người trôi giạt 14 giờ liền trên biển mãi đến chiều 13-12 mới được tàu  HQ 606 của Việt Cộng tăng viện phát hiện và cứu sống; riêng tại các nhà giàn khác bị Hải quân Việt Cộng bắn trả, buộc Trung Cộng phải bỏ ý định đánh phá và rút về vùng quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Phía Trung Cộng không có thương vong.

H9

178- Malaysia chiếm thêm các đảo Én Ca, Thám Hiểm (tháng 6-1999)

Tháng 6-1999, Malaysia đưa quân chiếm đóng và xây dựng công trình nhà hai tầng và các cơ sở Rađa trên các vị trí do Việt Cộng đang trấn giữ phía nam quần đảo Trường Sa, gồm: Terumbu Peninjau (bãi cạn Thám Hiểm) và Terumbu Siput (đá Én Ca), cách bờ biển phía Đông Malaysia 160-170 hải lý.

Cũng trong năm 1999, nhận thấy Malaysia đang tiến hành xây dựng công trình trên bãi Investigator và bãi đá Barque Canada, Philippines đã gửi công hàm phản  đối Malaysia.

179- Trung Cộng ra lệnh cấm trên Biển Đông Nam Á (tháng 6-1999)

Tháng 6-1999, Trung Cộng lần đầu tiên đơn phương ra lệnh cấm đánh bắt cá hàng năm trên Biển Đông Nam Á, trong phạm vi từ vĩ tuyến 12 độ Bắc trở lên trong thời gian 3 tháng. Phạm vi cấm biển bao gồm hơn phân nửa diện tích Biển Đông Nam Á. Điều cốt lõi trong lệnh cấm biển này là Trung Cộng đã khẳng định mình là chủ nhân tuyệt đối của Biển Đông Nam Á, có toàn quyền phán xét và quyết định bất chấp luật pháp quốc tế.

Mặc dầu ‘lệnh cấm’ này bị các nước giáp biển khác trong vùng phản đối, nhưng các lực lượng ngư chính, hải giám của Trung Quốc bắt đầu gia tăng việc tuần tra, bắt bớ, tịch thu phương tiện, tàu thuyền và đối xử vô nhân đạo với hàng loạt ngư dân Việt Nam hành nghề trong khu vực hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

180- Hiệp ước biên giới Việt – Trung (30-12-1999)

Sau khi thất bại tại bán đảo Cao Ly, từ cuối năm 1953, Trung Cộng tập trung binh lực chi viện cho Việt Cộng mong giành thế áp đảo về kiểm soát tình hình chánh trị, quân sự tại chiến trường Bắc Bộ.

Để tiếp tế võ khí, quân trang quân dụng, cố vấn và cán bộ huấn luyện, các đoàn xe vận tải và xe lửa Trung Cộng chạy sâu vào lãnh thổ Việt Nam, lập các căn cứ chỉ huy, trung tâm huấn luyện, trung tâm tiếp viện, kho hậu cần và hầm bí mật. Thừa dịp này, cố vấn Trung Cộng vẽ các bản đồ kho tàng tại khu vực giáp biên sâu vào lãnh thổ Việt Nam và trên các bản đồ chiến sự đó có chữ ký xác nhận của đôi bên Việt Cộng–Trung Cộng, lấy đó làm cơ sở khẳng định chủ quyền trong tranh chấp sau này. Trung Cộng cũng cho hàng vạn dân công và dân thiểu số kéo sang Việt Nam cư trú, lập các thôn bản định cư và lấn chiếm đất đai, trong khi phía Việt Cộng vẫn làm ngơ để tránh mất lòng đàn anh Trung Cộng.

Để phục vụ các chiến dịch lớn năm 1968 và 1972, Việt Cộng huy động toàn bộ các sư đoàn chánh quy kéo hết vào chiến trường miền Nam. Để bảo vệ miền Bắc chống các đợt phản kích của Không quân Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa, Việt Cộng nhờ 300.000 quân Trung Cộng mặc quân phục Việt Cộng trấn đóng tại sáu tỉnh biên giới Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh. Nhân dịp này, dân thiểu số, dân công và binh sĩ Trung Cộng tha hồ di chuyển các cột mốc ranh giới về phía Nam để chiếm hàng trăm cây số vuông đất đai.

Trước khi rút quân năm 1979, Trung Cộng gài mìn tại nhiều khu vực rộng hàng chục cây số vuông và tiếp tục chiếm đóng những khu vực hàng trăm cây số vuông khác mà Việt Cộng vẫn không dám đánh chiếm lại.

Ngày 12-5-1988, Bộ Ngoại giao Việt Cộng gửi công hàm cho Trung Cộng đề nghị đàm phán về biên giới trên bộ.

Sau cuộc chiến biên giới 1979, Trung Cộng vẫn chiếm giữ và chiếm thêm nhiều vùng lãnh thổ trước đây của Việt Nam mà không trả lại. Việc chiếm đóng này sau đó được hợp pháp hóa thành lãnh thổ của Trung Cộng khi vào ngày 30-12-1999 hai bên ký Hiệp định biên giới trên bộ, theo đó Việt Nam bị mất 720 cây số vuông lãnh thổ so với bản đồ Hiệp định Pháp – Thanh ký năm 1885 và 1887. Chiều dài biên giới hai nước trước đây là 1.350 cây số thì theo hiệp định 1999 chỉ còn 1.200 cây số; những đoạn cong răng cưa nay đều thuộc lãnh thổ Trung Cộng. Trong đó có nhiều khu quặng mỏ giàu có và những địa danh nỗi tiếng như Ải Nam Quan, suối Phi Khanh (tỉnh Lạng Sơn), thác Bản Giốc (tỉnh Cao Bằng)…

Tháng 2-1999, tổng bí thư Việt Cộng Lê Khả Phiêu sang thăm Bắc Kinh. Tổng bí thư Trung Cộng Giang Trạch Dân đã chỉ đạo phương châm hợp tác ’16 chữ vàng’ là: ‘láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai’.

Cuối năm 1999, Giang Trạch Dân sang thăm Hà Nội năm ngày để thúc đẩy việc ký kết Hiệp định biên giới.

Ngày 30-12-1999, Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được ký lén lút ở Bắc Kinh.

Tờ báo thiên tả của Pháp L’Express tiết lộ là Việt Nam mất cho Trung Cộng trên đất liền và mặt biển lên đến 15.000 cây số vuông (up to 15,000 square kilometers have been lost), tức là nếu trừ đi 11.163 km2 diện tích mặt biển bị mất thì diện tích đất liền bị mất là gần 4.000 km2 (up to 15,000 square kilometers have been lost quoted by Al Santolt, Hanoi cedes land and sea terrtories to China: Chinese military budget worries Asian neighbors, China Reform Monitor no. 435, 13-3-2002, American Foreign Policy Council, Washington DC…). Trong số lãnh thổ bị mất có những vùng đất quan trọng và nhạy cảm như : Ai Nam Quan, Thác Bản Giốc…

Ngày 29-1-2002, thứ trưởng ngoại giao Việt Cộng Lê Công Phụng trả lời phỏng vấn cùa VASC Orient, đã thừa nhận : …đã diễn ra rất nhiều biến thiên về con người, của thiên nhiên, của các sự kiện chính trị, và vì vậy đường biên giới không còn nguyên vẹn như lúc nhà Thanh và thực dân Pháp phân định một thế kỷ trước. Việt Nam theo Hiệp định 30-12-1999 đã mất một nửa thác Bản Giốc và 100 mét bề ngang của vùng đất Ai Nam Quan cho Trung Cộng. Cột mốc số 0 bị đặt cách cửa khẩu Trung Quốc ‘trên 200 mét’, tức là Việt Nam mất trên 100 mét đất bề ngang, bởi vì theo Công ước 1887 thì cột mốc biên giới ở đây (cột mốc số 18 tức Nam Quan) chỉ cách cửa khẩu Trung Hoa đúng 100 mét (à 100m au S de la porte). Nhiều học giả qua tính toán đã cho biết Việt Nam mất từ 700 đến 2.000 km2.

H10

H11Thác Bản Giốc thuộc xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng

H12Ải Nam Quan (Hữu Nghị Quan) phía bắc thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn

181- Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ (25-12-2000)

Vịnh Bắc Bộ là một trong những vịnh lớn của thế giới, có diện tích 126.250 km2, tức 36.000 hải lý vuông. Chiều ngang nơi rộng nhất khoảng 310 km tức 176 hải lý, nơi hẹp nhất ở cửa vịnh rộng khoảng 207 km tức 112 hải lý. Bờ vịnh Bắc Bộ thuộc 10 tỉnh thành Việt Nam (Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị) với tổng chiều dài 763 km và bờ biển thuộc hai tỉnh Quảng Tây, Hải Nam của Trung Cộng với tổng chiều dài 695 km. Vịnh có hai cửa, là eo biển Quỳnh Châu nằm giữa bán đảo Lôi Châu và đảo Hải Nam với bề rộng khoảng 19 hải lý, tức 35 km, và cửa chánh của vịnh từ đảo Cồn Cỏ (Việt Nam) tới đảo Hải Nam (Trung Quốc) rộng 112 hải lý tức 207 km.

Phần vịnh phía Việt Nam có khoảng 2.300 đảo, đá ven bờ, trong đó đảo Bạch Long Vĩ nằm cách đất liền 110 km, cách đảo Hải Nam 130 km. Phía Trung Cộng có một vài đảo nhỏ ở phía đông bắc vịnh, như đảo Tà Dương, Vị Châu. Vịnh Bắc Bộ có vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng đối với Việt Nam, vì là cửa ngõ giao thương quốc tế của các tỉnh phía Bắc và Bắc Trung Bộ, đồng thời là nơi cung cấp nguồn hải sản và tài nguyên thiên nhiên quan trọng và có vị trí trọng yếu về an ninh quốc phòng.

Ngày 26-6-1887, toàn quyền Đông Dương Ernest Constant thay mặt Việt Nam, đã ký với Thanh triều Trung Hoa bản Hiệp ước Bắc Kinh 1887 để phân chia hải phận vịnh Bắc Kỳ. Theo đó, đường ranh giới theo đường kinh tuyến 108 độ Đông, chạy từ Trà Cổ (Móng Cái) xuống vùng ngoài khơi Cửa Vịnh (Quảng Bình – Quảng Trị); phía Việt Nam chiếm 63% và phía Trung Hoa chiếm 37% hải phận. Sở dĩ phía Việt Nam có hải phận rộng hơn vì tính đến các yếu tố địa lý như các hải đảo, mật độ dân số, chiều dài bờ biển…

Trong bài nghiên cứu Đường biên giới trên biển của Việt Nam, in trong quyển sách Les frontières du Vietnam (Paris: Harmattan, 1989), tác giả Pierre Bernard Lafont ghi rõ: …đã được nhập vào với sự thương thuyết về biên giới giữa Đông Dương thuộc Pháp và Trung Hoa, để đưa đến việc ký kết vào ngày 26-6-1887 một công ước, được gọi là Công ước Constan, mà Điều 2 Công ước này ghi rõ rằng đường kinh tuyến Đông 105 độ 45 phút Paris, tương ứng với đường kinh tuyến Đông 108 độ 03 phút 18 giây Greenwich, là đường biên giới giữa hai nước trong vịnh Bắc Kỳ.

Ngày 24-3-1988, bắt đầu cuôc đàm phán Việt Cộng – Trung Cộng về phân định vịnh Bắc Bộ tại Bắc Kinh. Ngày 25-12-2000 tại Bắc Kinh, Bộ Ngoại giao Việt Cộng và Trung Cộng ký Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá ở vịnh Bắc Bộ; có hiệu lực từ ngày 30-6-2004 sau khi được Quốc hội hai bên phê chuẩn.

Nội dung Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ, bản Việt ngữ:

Hiệp định giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai nước trong Vịnh Bắc Bộ

Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (dưới đây gọi là “hai Bên ký kết”).

Nhằm củng cố và phát triển mối quan hệ láng giềng hữu nghị truyền thống giữa hai nước và nhân dân hai nước Việt Nam và Trung Quốc, giữ gìn và thúc đẩy sự ổn định và phát triển của Vịnh Bắc Bộ;

Trên cơ sở các nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi, cùng tồn tại hòa bình;

Trên tinh thần thông cảm, nhân nhượng lẫn nhau, hiệp thương hữu nghị và giải quyết một cách công bằng, hợp lý vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ;

Đã thỏa thuận như sau:

Điều 1: 1. Hai Bên ký kết căn cứ vào Công ước của Liên hợp quốc tế Luật Biển năm 1982, các nguyên tắc luật pháp và thực tiễn quốc tế được công nhận, trên cơ sở suy xét đầy đủ mọi hoàn cảnh hữu quan trong Vịnh Bắc Bộ, theo nguyên tắc công bằng, qua thương lượng hữu nghị đã phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai nước trong Vịnh Bắc Bộ.

  1. Trong Hiệp định này, Vịnh Bắc Bộ là vịnh nửa kín được bao bọc ở phía Bắc bởi bờ biển lãnh thổ đất liền của hai nước Việt Nam và Trung Quốc, phía Đông bởi bờ biển bán đảo Lôi Châu và đảo Hải Nam của Trung Quốc, phía Tây bởi bờ biển đất liền Việt Nam và giới hạn phía Nam bởi đoạn thẳng nối liền từ điểm nhô ra nhất của mép ngoài cùng của mũi Oanh Ca – đảo Hải Nam của Trung Quốc có tọa độ địa lý là vĩ tuyến 18 031’19” Bắc, kinh tuyến 18 041’17” Đông, qua đảo Cồn Cỏ của Việt Nam đến một điểm trên bờ biển của Việt Nam có tọa độ địa lý là vĩ tuyến16057’40” Bắc và kinh tuyến 107008’42” Đông.

Hai Bên ký kết xác định khu vực nói trên là phạm vi phân định của Hiệp định này.

Điều 2: Hai Bên ký kết đồng ý đường phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai nước trong Vịnh Bắc Bộ được xác định bằng 21 điểm nối tuần tự với nhau bằng các đoạn thẳng, tọa độ địa lý của 21 điểm này như sau:

Điểm số 1: Vĩ độ 21028’12.5” Bắc; Kinh độ 108006’04.3” Đông

Điểm số 2: Vĩ độ 21028’0.7” Bắc; Kinh độ 108006’01.6” Đông

Điểm số 3: Vĩ độ 21027’50.5” Bắc; Kinh độ 108005’5.7” Đông

Điểm số 4: Vĩ độ 21027’39.5” Bắc; Kinh độ 108005’51.5” Đông

Điểm số 5: Vĩ độ 21027’28.2” Bắc; Kinh độ 108005’39.9” Đông

Điểm số 6: Vĩ độ 21027’23.1” Bắc; Kinh độ 108005’38.8” Đông

Điểm số 7: Vĩ độ 21027’08.2” Bắc; Kinh độ 108005’43.7” Đông

Điểm số 8: Vĩ độ 21016’32” Bắc; Kinh độ 108008’05”  Đông

Điểm số 9: Vĩ độ 21012’35” Bắc; Kinh độ 108012’31” Đông

Điểm số 10: Vĩ độ 20024’05” Bắc; Kinh độ 108022’45” Đông

Điểm số 11: Vĩ độ 19057’33” Bắc; Kinh độ 107055’47” Đông

Điểm số 12: Vĩ độ 19039’33” Bắc; Kinh độ 107031’40” Đông

Điểm số 13: Vĩ độ 19025’26” Bắc; Kinh độ 107021’00” Đông

Điểm số 14: Vĩ độ 19025’26” Bắc; Kinh độ 107012’43” Đông

Điểm số 15: Vĩ độ 19016’04” Bắc; Kinh độ 107011’23” Đông

Điểm số 16: Vĩ độ 19012’55” Bắc; Kinh độ 107009’34” Đông

Điểm số 17: Vĩ độ 18042’52” Bắc; Kinh độ 107009’34” Đông

Điểm số 18: Vĩ độ 18013’49” Bắc; Kinh độ 107034’00” Đông

Điểm số 19: Vĩ độ 18007’08” Bắc; Kinh độ 107037’34” Đông

Điểm số 20: Vĩ độ 18004’13” Bắc; Kinh độ 107039’09” Đông

Điểm số 21: Vĩ độ 17047’00” Bắc; Kinh độ 107058’00” Đông

Điều 3: 1. Đường phân định từ điểm số 1 đến điểm số 9 quy định tại Điều II của Hiệp định này là biên giới lãnh hải của hai nước trong vịnh Bắc Bộ.

  1. Mặt thẳng đứng đi theo đường biên giời lãnh hãi của hai nước quy định tại khoản 1 Điều này phân định vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải hai nước.
  2. Mọi sự thay đổi địa hình đều không làm thay đổi đường biên giới lãnh hải hai nước từ điểm số 1 đến điểm số 7 quy định tại khoản 1 Điều này, trừ khi hai Bên ký kết có thỏa thuận khác.

Điều 4: Đường phân định từ điểm số 9 đến điểm số 21 quy định tại Điều II của Hiệp định này là ranh giới giữa vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai nước trong Vịnh Bắc Bộ.

Điều 5: Đường phân định lãnh hải của hai nước quy định tại Điều II từ điểm số 1 đến điểm số 7 được thể hiện bằng đường mầu đen trên bản đồ chuyên đề cửa sông Bắc Luân tỷ lệ 1:10.000 do hai Bên ký kết cùng nhau thành lập năm 2000. Đường phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai nước từ điểm số 7 đến điểm số 21 được thể hiện bằng đường mầu đen trên Tổng đồ toàn diện Vịnh Bắc Bộ tỷ lệ 1: 500.0000 do hai Bên ký kết cùng nhau thành lập năm 2000. Các đường phân định này đều là đường trắc địa.

Bản đồ chuyên đề cửa sông Bắc Luân và Tổng đồ toàn diện Vịnh Bắc Bộ nói trên là bản đồ đính kèm Hiệp định. Các bản đồ trên sử dụng hệ tọa độ ITRF-96. Các tọa độ địa lý của các điểm quy định tại Điều II Hiệp định này đều được xác định trên các bản đồ nói trên. Đường phân định quy định trong Hiệp định này được thể hiện trên các bản đồ kèm theo Hiệp định chỉ nhằm mục đích minh họa.

Điều 6: Hai Bên ký kết phải tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mỗi Bên đối với lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ được xác định theo Hiệp định này.

Điều 7: Trong trường hợp có các cấu tạo mỏ dầu, khí tự nhiên đơn nhất hoặc mỏ khoáng sản khác nằm vắt ngang đường phân định quy định tại Điều II của Hiệp định này, hai Bên ký kết phải thông qua hiệp thương hữu nghị để đạt được thỏa thuận về việc khai thác hữu hiệu nhất các cấu tạo hoặc mỏ khoáng sản nói trên cũng như việc phân chia công bằng lợi ích thu được từ việc khai thác.

Điều 8: Hai Bên ký kết đồng ý tiến hành hiệp thương về việc sử dụng hợp lý và phát triển bền vững tài nguyên sinh vật ở Vịnh Bắc Bộ cũng như các công việc hợp tác có liên quan đến bảo tồn, quản lý và sử dụng tài nguyên sinh vật ở vùng đặcquyền kinh tế hai nước trong Vịnh Bắc Bộ.

Điều 9: Việc phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa hai nước trong Vịnh Bắc Bộ theo Hiệp định này không gây bất kỳ ảnh hưởng hoặc phương hại nào đến lập trường của mỗi Bên ký kết đối với các quy phạm luật pháp quốc tế về luật Biển.

Điều 10: Mọi tranh chấp giữa hai Bên ký kết liên quan đến việc giải thích hoặc thực hiện Hiệp định này phải được giải quyết thông qua hiệp thương và đàm phán hữu nghị.

Điều 11: Hiệp định này phải được hai Bên ký kết phê chuẩn và có hiệu lực kể từ ngày trao đổi các văn kiện phê chuẩn. Các văn kiện phê chuẩn được trao đổi tại Hà Nội.

Hiệp định này được ký tại Bắc Kinh, ngày 25 tháng 12 năm 2000 thành hai bản, mỗi bản bằng tiếng Việt và tiếng Trung, cả hai văn bản đều có giá trị như nhau.

Đại diện toàn quyền nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam – bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Duy Niên. Đại diện toàn quyền nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa – bộ trưởng Bộ Ngoại giao Đường Gia Triền.

Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ có nội dung chánh là: Hai bên (Trung Cộng và Việt Cộng) thống nhất một đường phân định với 21 điểm kéo dài từ cửa sông Bắc Luân ra đến cửa vịnh phía nam, trong đó từ điểm 1 đến điểm 9 là biên giới lãnh hải, từ điểm 9 đến điểm 21 là ranh giới chung cho cả vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Việt Nam được hưởng 53,23% diện tích vịnh và Trung Quốc được hưởng 46,77% diện tích vịnh. Đường phân định đi cách đảo Bạch Long Vĩ 15 hải lý, tức đảo được hưởng lãnh hải rộng 12 hải lý, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 3 hải lý (25% hiệu lực)

Như vậy Việt Cộng đã nhượng 10% lãnh hải vịnh Bắc Bộ, rộng khoảng 12.000 km2 cho Trung Cộng. Hai bên lại ký phụ lục về 21 điểm tiêu chuẩn phân định vịnh Bắc Bộ, theo đó Việt Nam trên thực tế chỉ còn kiểm soát 45% hải phận, so với 55% của Trung Cộng, làm Việt Nam mất đi 21.000 km2 hải phận.

Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ năm 2000 còn có nhiều điểm bất công nghiêm trọng khác, như không căn cứ vào những điều kiện đặc thù để phân định ranh giới biển. Theo án lệ của Tòa án quốc tế, hải đảo không thể đồng hóa hay được coi trọng như lục địa, và khi thương lượng thì hải đảo đôi bên phải bình đẳng với nhau theo tiêu chuẩn. Nhưng trong Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ 2000, hàng trăm hải đảo Việt trong vịnh Bắc Bộ như Vĩnh Thực, Trần, Thanh Lân, Bạch Long Vĩ, Cô Tô, Cồn Cỏ… đều không được quyền có đường cơ sở để tính lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế riêng, mà đường cơ sở của Việt Nam tính theo bờ biển Bắc Việt. Trong khi đảo Hải Nam của Trung Quốc tuy là một hải đảo, dân số chỉ bằng một phần sáu và bờ biển chỉ dài bằng một phần ba so với Bắc Việt, lại được xem như một lục địa để có đường cơ sở phân định lãnh hải ngang hàng với Bắc Việt.

Tại vĩ tuyến 20 (ngang khu vực Ninh Bình – Thanh Hóa của Việt Nam), vùng biển rộng khoảng 170 hải lý. Tính theo đường trung tuyến thì 42 triệu dân Bắc Việt chỉ được vùng đặc quyền kinh tế rộng chỉ 85 hải lý thay vì 200 hải lý như Công ước về Luật biển. Trong khi đó đảo Hải Nam chỉ 7 triệu dân lại có vùng đặc quyền kinh tế rộng 85 hải lý về phía Tây, cộng thêm 200 hải lý về phía Đông, tổng cộng là 285 hải lý.

Nhưng tham vọng của chánh quyền Trung Cộng không chỉ có thế, trên tờ Nhân dân nhật báo xuất bản tại Bắc Kinh, số ra ngày 28-9-2000 có bài Hainan looks to South China Sea Resource ghi rõ: Facing the South China Sea, Chinas largest tropical island, Hainan province, has been newly designated to create a comprehensive strategy to tackle its marine resources… In term of its island, Hainan is the smallest province in China, but taking into consideration its 2.2 million square kilometer of sea territory, it is the largest.

H13

H14

H15

H16

182- Hiệp định hợp tác nghề cá ở vịnh Bắc Bộ (25-12-2000)

Hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ (北部湾渔业合作协定) được ký kết giữa Chính phủ Việt Cộng và Chính phủ Trung Cộng tại Bắc Kinh ngày 25-12-2000. Người đại diện ký kết của Việt Cộng là bộ trưởng Bộ Thủy sản Tạ Quang Ngọc, người đại diện ký kết của Trung Cộng là bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Trần Diệu Bang (陈耀邦). Hiệp định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 30-6-2004.

Nội dung Hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ, bản Việt ngữ:

Hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ giữa Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam và Chính phủ nước CHND Trung Hoa

Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (dưới đây gọi tắt là “hai Bên ký kết”);

Nhằm giữ gìn và phát triển mối quan hệ láng giềng hữu nghị truyền thống giữa hai nước và nhân dân hai nước Việt Nam và Trung Quốc;

Nhằm bảo tồn và khai thác bền vững tài nguyên sinh vật biển trong Vùng nước Hiệp định ở vịnh Bắc Bộ;

Nhằm mục đích tăng cường hợp tác nghề cá giữa hai nước trong vịnh Bắc Bộ;

Căn cứ theo luật pháp quốc tế, đặc biệt là các quy định liên quan trong “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” ký ngày 10 tháng 12 năm 1982 cũng như Hiệp định giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai nước ký ngày 25 tháng 12 năm 2000 (dưới đây gọi tắt là “Hiệp định phân định vịnh bắc Bộ”);

Qua hiệp thương hữu nghị, trên cơ sở tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của nhau trong vịnh Bắc Bộ, bình đẳng cùng có lợi; Đã thỏa thuận như sau:

Phần I- Các quy định chung

Điều 1- Hiệp định này áp dụng cho một phần vùng đặc quyền kinh tế và một phần vùng giáp giới lãnh hải của hai nước trong vịnh Bắc Bộ (dưới đây gọi tắt là “Vùng nước Hiệp định”).

Điều 2- Hai bên ký kết tiến hành hợp tác nghề cá trong Vùng nước Hiệp định trên cơ sở tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của nhau. Việc hợp tác nghề cá này không ảnh hưởng đến chủ quyền lãnh hải của mỗi nước và các quyền lợi khác mà mỗi Bên ký kết được hưởng trong vùng đặc quyền kinh tế của mình.

Phần II- Vùng đánh cá chung

Điều 3- 1.Hai bên ký kết nhất trí thiết lập Vùng đánh cá chung trong vùng đặc quyền kinh tế của mỗi nước, nằm về phía Bắc của đường đóng cửa vịnh Bắc Bộ, về phía Nam của vĩ tuyến 200 Bắc và cách đường phân định được xác định trong Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ (dưới đây gọi tắt là “Đường phân định”) 30,5 hải lý về mỗi phía.

  1. Phạm vi cụ thể của Vùng đánh cá chung là vùng nước nằm trong các đoạn thẳng tuần tự nối liền các điểm sau đây:

Điểm 1: Vĩ độ 17023’38” Bắc; Kinh độ 107034’43” Đông

Điểm 2: Vĩ độ 1800’20” Bắc; Kinh độ 108020’18” Đông

Điểm 3: Vĩ độ 18044’25” Bắc; Kinh độ 107041’51” Đông

Điểm 4: Vĩ độ 19008’09” Bắc; Kinh độ 107041’51” Đông

Điểm 5: Vĩ độ 19043’00” Bắc; Kinh độ 108020’30” Đông

Điểm 6: Vĩ độ 20000’00” Bắc; Kinh độ 108042’32” Đông

Điểm 7: Vĩ độ 20000’00” Bắc; Kinh độ 107057’42” Đông

Điểm 8: Vĩ độ 19052’34” Bắc; Kinh độ 107057’42” Đông

Điểm 9: Vĩ độ 19052’34” Bắc; Kinh độ 107029’00” Đông

Điểm 10: Vĩ độ 20000’00” Bắc; Kinh độ 107029’00” Đông

Điểm 11: Vĩ độ 20000’00” Bắc; Kinh độ 107007’41” Đông

Điểm 12: Vĩ độ 19033’07” Bắc; Kinh độ 106037’17” Đông

Điểm 13: Vĩ độ 18040’00” Bắc; Kinh độ 106037’17” Đông

Điểm 14: Vĩ độ 18018’58” Bắc; Kinh độ 106053’08” Đông

Điểm 15: Vĩ độ 18000’00” Bắc; Kinh độ 107001’55” Đông

Điểm 16: Vĩ độ 170023’38” Bắc; Kinh độ 107034’43” Đông

Điều 4- Hai Bên ký kết tiến hành hợp tác nghề cá lâu dài trong Vùng đánh cá chung trên tinh thần cùng có lợi.

Điều 5- Hai Bên ký kết căn cứ theo điều kiện môi trường tự nhiên, đặc điểm của tài nguyên sinh vật, nhu cầu phát triển bền vững và bảo vệ môi trường, cũng như những ảnh hưởng đối với hoạt đọng nghề cá của mỗi Bên ký kết trong Vùng đánh cá chung, cùng đặt ra những biện pháp về việc bảo tồn, quản lý và khai thác bền vững tài nguyên sinh vật trong Vùng đánh cá chung.

Điều 6- Hai Bên ký kết tôn trọng nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, căn cứ vào sản lượng được phép đánh bắt được xác định trên cơ sở kết quả điều tra liên hợp định kỳ về nguồn lợi thuỷ sản và những ảnh hưởng đối với hoạt động nghề cá của mỗi Bên ký kết cũng như nhu cầu của sự phát triển bền vững, thông qua Uỷ ban Liên hợp nghề cá vịnh Bắc Bộ Việt – Trung được thành lập theo điều 13 của Hiệp định này, hàng năm xác định số lượng tàu cá của mỗi Bên ký kết vào hoạt động đánh bắt trong Vùng đánh cá chung.

Điều 7- 1.Mỗi Bên ký kết thực hiện chế độ cấp phép đánh bắt đối với tàu cá Bên mình tiến hành hoạt động nghề cá trong Vùng đánh cá chung. Việc cấp phép đánh bắt phải căn cứ theo số lượng tàu cá hoạt động đánh bắt mà Uỷ ban Liên hợp nghề cá vịnh Bắc Bộ Việt – Trung định ra cho năm đó, đồng thời thông báo cho Bên ký kết kia tên, số hiệu tàu cá được cấp phép. Hai Bên ký kết có nghĩa vụ giáo dục và đào tạo những ngư dân vào tiến hành hoạt động nghề cá trong Vùng đánh cá chung.

  1. Tất cả những tàu cá vào tiến hành hoạt động nghề cá trong Vùng đánh cá chung đều phải xin phép cơ quan được trao thẩm quyền của Chính phủ nước mình và sau khi nhận được giấy phép đánh bắt mới có thể vào tiến hành hoạt động nghề cá trong Vùng đánh cá chung. Tàu cá của hai Bên ký kết vào hoạt động nghề cá trong Vùng đánh cá chung cần phải được đánh dấu theo qui định của Uỷ ban Liên hợp nghề cá vịnh Bắc Bộ Việt – Trung.

Điều 8- Khi tiến hành hoạt động nghề cá trong Vùng đánh cá chung, công dân và tàu cá của mỗi Bên ký kết phải tuân thủ những quy định về bảo tồn và quản lý nguồn lợi thuỷ sản của Uỷ ban Liên hợp nghề cá vịnh Bắc Bộ Việt – Trung; phải viết chính xác nhật ký đánh bắt theo yêu cầu của Uỷ ban Liên hợp nghề cá vịnh Bắc Bộ Việt – Trung, đồng thời phải nộp cho cơ quan được trao thẩm quyền của Chính phủ nước mình trong thời gian quy định.

Điều 9- 1. Căn cứ vào các quy định do Uỷ ban Liên hợp nghề cá vịnh Bắc Bộ Việt – Trung  đặt ra trên cơ sở phù hợp với đặc điểm của Vùng đánh cá chung cũng như phù hợp với luật pháp của mỗi nước về bảo tồn và quản lý nguồn lợi thuỷ sản, cơ quan có thẩm quyền của mỗi Bên ký kết thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát đối với công dân và tàu cá của hai Bên ký kết ở Vùng đánh cá chung thuộc vùng nước của mình.

  1. Khi cơ quan có thẩm quyền của một Bên ký kết phát hiện công dân và tàu cá bên ký kết kia vi phạm các quy định của Uỷ ban Liên hợp nghề cá vịnh Bắc Bộ Việt – Trung ở Vùng đánh cá chung thuộc vùng nước của mình thì có quyền xử lý các hành vi vi phạm đó theo các quy định của Uỷ ban Liên hợp nghề cá vịnh Bắc Bộ Việt – Trung, và nên thông báo nhanh chóng cho bên ký kết kia tình hình liên quan và kết quả xử lý theo đường do Uỷ ban Liên hợp nghề cá vịnh Bắc Bộ Việt – Trung thoả thuận. Các tàu cá và thuyền viên bị bắt giữ cần phải được phóng thích nhanh chóng sau khi có sự bảo lãnh thích đáng hoặc những bảo đảm khác.
  2. Khi cần thiết, cơ quan có thẩm quyền của hai Bên ký kết có thể phối hợp với nhau cùng kiểm tra, kiểm soát và xử lý các hành vi vi phạm các quy định về bảo tồn và quản lý nguồn lợi thuỷ sản của Uỷ ban Liên hợp nghề cá vịnh Bắc Bộ Việt – Trung trong Vùng đánh cá chung.
  3. Mỗi Bên ký kết có quyền căn cứ vào luật pháp của nước mình xử phạt những tàu cá chưa được cấp phép mà vào Vùng đánh cá chung thuộc vùng nước của mình tiến hành hoạt động nghề cá, hoặc tuy được cấp phép vào Vùng đánh cá chung nhưng có các hoạt động bất hợp pháp ngoài hoạt động nghề cá.
  4. Mỗi Bên ký kết nên tạo thuận lợi cho những tàu cá đã được cấp phép của Bên ký kết kia được vào Vùng đánh cá chung. Cơ quan có thẩm quyền của mỗi Bên ký kết không được lạm dụng chức quyền, cản trở những công dân và tàu cá đã được cấp phép của Bên ký kết kia tiến hành hoạt động nghề cá bình thường trong Vùng đánh cá chung. Nếu một Bên ký kết phát hiện cơ quan có thẩm quyền của Bên ký kết kia tiến hành thực thi pháp luật không theo biện pháp quản lý chung do Uỷ ban Liên hợp nghề cá vịnh Bắc Bộ Việt – Trung đặt ra thì có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền đó giải thích, khi cần thiết, có thể đưa ra thảo luận và giải quyết tại Uỷ ban Liên hợp nghề cá vịnh Bắc Bộ Việt – Trung.

Điều 10- Mỗi Bên ký kết có thể áp dụng bất kỳ một phương thức hợp tác hoặc liên doanh quốc tế nào trong khuôn khổ quy mô đánh bắt của Bên mình trong Vùng đánh cá chung. Tất cả tàu cá được cấp phép hoạt động nghề cá theo các phương thức hợp tác hoặc liên doanh nói trên trong Vùng đánh cá chung đều phải tuân theo những quy định về bảo tồn và quản lý nguồn lợi thuỷ sản do Uỷ ban Liên hợp nghề cá vịnh Bắc Bộ Việt – Trung đặt ra, treo quốc kỳ của Bên ký kết cấp phép đó và tiến hành đánh dấu theo quy định của Uỷ ban Liên hợp nghề cá vịnh Bắc Bộ Việt – Trung, hoạt động nghề cá trong Vùng đánh cá chung tại Vùng nước của Bên ký kết cấp phép đó.

Phần III- Dàn xếp quá độ

Điều 11- 1. Mỗi Bên ký kết nên đưa ra dàn xếp quá độ đối với hoạt động nghề cá hiện có của Bên ký kết kia trong vùng đặc quyền kinh tế nước mình nằm về phía Bắc Vùng đánh cá chung (tính từ vĩ tuyến 200 Bắc). Việc dàn xếp quá độ bắt đầu được thực thi kể từ ngày Hiệp định này có hiệu lực. Bên ký kết kia nên áp dụng biện pháp giảm dần hàng năm hoạt động nghề cá nói trên. Việc dàn xếp quá độ sẽ kết thúc trong vòng bốn năm kể từ ngày Hiệp định này có hiệu lực.

  1. Phạm vi vùng nước dàn xếp quá độ và biện pháp quản lý đối với việc dàn xếp quá độ sẽ do hai Bên ký kết quy định bằng hình thức Nghị định thư bổ sung. Nghị định thư bổ sung đó là bộ phận không thể tách rời của Hiệp định này.
  2. Sau khi dàn xếp quá độ kết thúc, trong điều kiện giống nhau, mỗi Bên ký kết nên ưu tiên cho phép Bên ký kết kia vào đánh bắt theo chế độ vùng đặc quyền kinh tế trong vùng đặc quyền kinh tế nước mình.

Phần IV- Vùng đệm cho tàu cá nhỏ

Điều 12- 1. Để tránh xảy ra tranh chấp do việc tàu cá loại nhỏ của hai Bên ký kết đi nhầm vào lãnh hải của Bên ký kết kia, hai Bên ký kết thiết lập vùng đệm cho tàu cá loại nhỏ ở vùng giáp giới lãnh hải của hai nước, chiều dài tính từ điểm đầu tiên của đường phân định kéo về phía Nam theo đường phân định 10 hải lý, chiều rộng lùi về mỗi phía 3 hải lý tính từ đường phân định, phạm vi cụ thể được tạo thành bởi các đoạn thẳng tuần tự nối các điểm sau đây:

Điểm 1: Vĩ độ 21028’12.5” Bắc; Kinh độ 108006’04.3” Đông

Điểm 2: Vĩ độ 21025’40.7” Bắc; Kinh độ 108002’46.1” Đông

Điểm 3: Vĩ độ 21017’52.1” Bắc; Kinh độ 108004’30.3” Đông

Điểm 4: Vĩ độ 21018’29.0” Bắc; Kinh độ 108007’39.0” Đông

Điểm 5: Vĩ độ 21019’05.7” Bắc; Kinh độ 108010’47.8” Đông

Điểm 6: Vĩ độ 21025’41.7” Bắc; Kinh độ 108009’20.0” Đông

Điểm 7: Vĩ độ 21028’12.5” Bắc; Kinh độ 108006’04.3” Đông

  1. Nếu một Bên ký kết phát hiện tàu cá loại nhỏ của Bên ký kết kia vào hoạt động nghề cá trong vùng đệm cho tàu cá loại nhỏ thuộc vùng nước của mình có thể cảnh cáo và áp dụng các biện pháp cần thiết để buộc tàu đó rời khỏi vùng nước đó, nhưng nên kiềm chế: không bắt bớ, giam giữ, xử phạt hoặc dùng vũ lực; nếu xảy ra tranh chấp liên quan đến hoạt động nghề cá thì nên báo cáo Uỷ ban Liên hợp nghề cá vịnh Bắc Bộ Việt – Trung để giải quyết; nếu xảy ra những tranh chấp ngoài hoạt động nghề cá thì do các cơ quan có thẩm quyền liên quan của mỗi nước giải quyết theo luật pháp của nước mình.

Phần V- Uỷ ban Liên hợp nghề cá Vịnh Bắc Bộ Việt – Trung

Điều 13- 1. Để thực thi Hiệp định này, hai Bên ký kết quyết định thành lập Uỷ ban Liên hợp nghề cá vịnh Bắc Bộ Việt – Trung (sau đây gọi tắt là “Uỷ ban Liên hợp nghề cá”). Uỷ ban Liên hợp nghề cá gồm mỗi Bên ký kết một đại diện do Chính phủ Bên ký kết đó bổ nhiệm và một số uỷ viên.

  1. Uỷ ban Liên hợp nghề cá sẽ đặt ra những quy định cụ thể về cơ chế hoạt động của mình.
  2. Uỷ ban Liên hợp nghề cá có chức trách như sau:

3.1 Hiệp thương những vấn đề liên quan đến bảo tồn và khai thác bền vững nguồn lợi thuỷ sản trong Vùng nước Hiệp định, đồng thời đề xuất kiến nghị với Chính phủ hai nước.

3.2 Hiệp thương về những việc liên quan tới hợp tác nghề cá của hai nước ở Vùng nước Hiệp định, đồng thời đề xuất kiến nghị với Chính phủ hai nước.

3.3 Căn cứ theo Điều 5 của Hiệp định này đặt ra những quy định về bảo tồn và quản lý nguồn lợi thuỷ sản trong Vùng đánh cá chung cũng như các biện pháp thực thi các quy định đó.

3.4 Căn cứ theo Điều 6 của Hiệp định này hàng năm xác định số lượng tàu cá của mỗi Bên ký kết vào hoạt động đánh bắt trong Vùng đánh cá chung.

3.5 Hiệp thương và quyết định những việc khác liên quan tới Vùng đánh cá chung.

3.6 Thực hiện chức năng của mình theo các quy định của Nghị định thư bổ sung về dàn xếp quá độ.

3.7 Giải quyết tranh chấp liên quan đến hoạt động nghề cá xảy ra trong Vùng đệm cho tàu cá loại nhỏ.

3.8 Tiến hành chỉ đạo việc xử lý đối với những tranh chấp nghề cá và sự cố gây thiệt hại trên biển trong phạm vi chức năng của mình.

3.9 Tiến hành đánh giá tình hình chấp hành Hiệp định này và báo cáo Chính phủ hai nước.

3.10 Có thể kiến nghị với Chính phủ hai nước về việc bổ sung, sửa đổi Hiệp định này, Phụ lục của Hiệp định này và Nghị định thư bổ sung của Hiệp định này.

3.11 Tiến hành hiệp thương những công việc khác mà hai Bên ký kết cùng quan tâm.

  1. Tất cả mọi kiến nghị và quyết định của Uỷ ban Liên hợp Nghề cá đều phải được sự nhất trí của đại diện hai Bên ký kết.
  2. Uỷ ban Liên hợp nghề cá mỗi năm họp một đến hai lần và luân phiên tổ chức tại hai nước. Khi cần thiết, có thể triệu tập hội nghị bất thường sau khi có sự nhất trí của đại diện hai Bên ký kết.

Phần VI- Những điều khoản khác

Điều 14- Để đảm bảo an toàn hàng hải, giữ gìn an ninh và trật tự hoạt động đánh bắt trên biển, xử lý kịp thời, thuận lợi các tai nạn trên biển trong Vùng nước Hiệp định, mỗi Bên ký kết nên có sự chỉ đạo, giáo dục pháp luật và áp dụng các biện pháp cần thiết khác đối với công dân và tàu cá của nước mình.

Điều 15- 1. Khi công dân và tàu các của một Bên ký kết gặp nạn hoặc tình hình khẩn cấp khác tại vùng biển của Bên ký kết kia cần cứu giúp thì Bên ký kết kia có nghĩa vụ tiến hành việc cứu trợ và bảo hộ, đồng thời nhanh chóng thông báo tình hình liên quan cho cơ quan hữu quan của Bên ký kết đó.

  1. Khi công dân và tàu cá của một Bên ký kết do thời tiết xấu hoặc gặp tình hình khẩn cấp khác phải lánh nạn, thì có thể thông qua liên hệ với cơ quan hữu quan của Bên ký kết kia căn cứ vào Phụ lục của Hiệp định này và các quy định của Uỷ ban Liên hợp nghề cá để tới Bên ký kết kia lánh nạn. Công dân và tàu cá trong thời gian lánh nạn cần phải tuân thủ pháp luật và quy định liên quan của Bên ký kết kia, đồng thời phải phục tùng sự quản lý của cơ quan hữu quan của Bên ký kết kia.

Điều 16- Mỗi Bên ký kết căn cứ theo các quy định của “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” ngày 10 tháng 12 năm 1982 bảo đảm quyền đi qua vô hại và đi lại thuận lợi cho tàu cá của Bên ký kết kia.

Điều 17- 1. Hai Bên ký kết nên tiến hành hợp tác nghiên cứu khoa học về nghề cá và bảo tồn tài nguyên sinh vật biển trong Vùng nước Hiệp định.

  1. Mỗi Bên ký kết có thể tiến hành hợp tác quốc tế về nghiên cứu khoa học nghề cá trong Vùng nước Hiệp định thuộc Bên mình.

Phần VII- Các điều khoản cuối cùng

Điều 18- Bất cứ tranh chấp nào nảy sinh giữa hai Bên ký kết trong việc giải thích hoặc áp dụng Hiệp định này nên được giải quyết thông qua thương lượng hữu nghị.

Điều 19- Những Phụ lục của Hiệp định này và Nghị định thư bổ sung của Hiệp định này là bộ phận không thể tách rời của Hiệp định này.

Điều 20- Hiệp định này, những Phụ lục của Hiệp định này và Nghị định thư bổ sung của Hiệp định này có thể được bổ sung, sửa đổi thông qua thương lượng giữa hai Bên ký kết.

Điều 21- Các toạ độ địa lý của Vùng đánh cá chung được quy định trong khoản 2 điều 3 của Hiệp định này và các toạ độ địa lý của Vùng đệm cho tàu cá nhỏ được quy định trong khoản 1 Điều 12 của Hiệp định này được xác định trên Tổng đồ toàn diện vịnh Bắc Bộ và Bản đồ chuyên đề cửa sông Bắc Luân, là các bản đồ được đính kèm theo Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ.

Điều 22- 1. Hiệp định này, sau khi được hai Bên ký kết hoàn thành trình tự pháp luật của môĩ nước, sẽ có hiệu lực vào ngày được thoả thuận trong văn kiện trao đổi giữa Chính phủ hai nước.

  1. Hiệp định này có hiệu lực trong vòng 12 năm và mặc nhiên gia hạn thêm ba năm. Sau khi thời gian gia hạn kết thúc, việc hợp tác tiếp theo do hai Bên ký kết hiệp thương thỏa thuận.

Hiệp định này được ký tại Bắc Kinh ngày 25 tháng 12 năm 2000, thành hai bản, mỗi bản bằng tiếng Việt và tiếng Trung, cả hai văn bản đều có giá trị như nhau.

Hiệp định hợp tác nghề cá ở vịnh Bắc Bộ có nội dung chủ yếu là lập ra vùng đánh cá chung ở phía nam vĩ tuyến 20, dọc theo đường phân định và rộng 30,5 hải lý ở mỗi bên đường này. Diện tích tổng cộng của vùng đánh cá chung là 33.500 km2, tức 27,9% diện tích vịnh. Thời hạn giá trị của vùng đánh cá là 15 năm. Mỗi bên có quyền kiểm tra, kiểm soát các tàu đánh cá được phép vào vùng đánh cá chung thuộc vùng đặc quyền kinh tế của nước mình; số lượng tàu đánh cá của mỗi bên được phép vào hoạt động đánh bắt trong vùng đánh cá chung được xác định hàng năm thông qua Uỷ ban Liên hợp nghề cá, trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi và căn cứ vào sản lượng được phép đánh bắt được xác định trên cơ sở điều tra liên hợp định kỳ về nguồn lợi thủy sản; mỗi bên có quyền liên doanh hợp tác đánh cá với nước thứ ba trong vùng đặc quyền kinh tế của mình.

Vùng đánh cá chung rộng 61 hải lý, mỗi bên góp vào 30,5 hải lý, từ đường trung tuyến biển sâu nhiều cá, bắt đầu từ vĩ tuyến 20 (ngoài khơi Ninh Bình – Thanh Hóa) đến vùng Cửa Vịnh vĩ tuyến 17 (ngoài khơi Quảng Bình – Quảng Trị). Tại Quảng Bình, vùng biển rộng khoảng 120 hải lý, theo đường trung tuyến thì mỗi bên có vùng đặc quyền kinh tế rộng 60 hải lý. Tuy nhiên trừ vùng đánh cá chung thì Việt Nam chỉ còn 30 hải lý trên thực tế, trong khi phía đảo Hải Nam có vùng đánh cá rộng 290 hải lý. Ngư dân Việt Nam vượt qua phạm vi 30 hải lý thì bị tàu hải quân Trung Cộng ngăn chặn, kiểm soát, gây khó. Tại vùng Ninh Bình – Thanh Hóa, ngư dân Việt chỉ còn 55 hải lý gần bờ, trong khi phía đảo Hải Nam có 315 hải lý. Ngày 8-1-2005, hải quân Trung Cộng nổ súng vào đoàn thuyền đánh cá của ngư dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa, bắn chìm 1 tàu, làm chết 9 ngư dân, bắt 3 tàu và 28 ngư dân đưa về Trung Quốc.

Việt Nam chỉ có một ít tàu đánh cá nhỏ đóng bằng gỗ, cũ kỹ, lạc hậu, trong khi Trung Cộng có số tàu đánh cá lớn bằng vỏ thép, chiếm 40% tải trọng cả thế giới và hoành hành trên vùng biển như vào chỗ không người.

183- Dư luận về Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá năm 2000

Tuy Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ được ký từ năm 2000 nhưng mãi đến năm 2004 thì Chính phủ Việt Cộng mới công bố những tọa độ chi tiết. Bên cạnh đó, trong dư luận có sự bất bình, không tán thành hiệp định vì cho rằng Chính phủ Việt Cộng đã nhượng bộ cho Trung Cộng quá nhiều.

Trong bài viết ‘Nhìn lại Hiệp định vịnh Bắc Bộ sau 10 năm‘, tiến sĩ Dương Danh Huy, thành viên Quỹ Nghiên cứu Biển Đông, có phân tích hai quan điểm hiện nay về hiệp ước này:

– Việt Nam thua thiệt: Quan điểm thứ nhất cho rằng công ước Pháp – Thanh năm 1887 đã phân định toàn bộ vịnh Bắc Bộ bằng kinh tuyến 108°3′, hiệp ước phân định lại ký năm 2000 là sai và gây thiệt hại cho Việt Nam. Dương Danh Huy dựa theo hai chi tiết trong biên bản Công ước Pháp – Thanh 1887: Những hòn đảo ở về phía Đông của đường kinh tuyến Paris 105043′ kinh độ Đông, có nghĩa là đường thẳng Bắc Nam đi qua đông điểm đảo Trà Cổ và tạo thành đường biên giới cũng được giao cho Trung Hoa. Các đảo ‘Go Tho’ (đảo Cô Tô) và những đảo khác ở về phía Tây của đường kinh tuyến này thì giao cho Bắc Kỳ.

Trong bài viết, Dương Danh Huy phân tích rằng bản đồ đính kèm công ước vẽ ranh giới dọc kinh tuyến 105°43′ Paris, tức là kinh tuyến 108°3′ Greenwich từ cực đông đảo Trà Cổ ra biển và kết thúc cách đảo khoảng 5 hải lý, mới chỉ là phân giới cho một phần rất nhỏ của vịnh Bắc Bộ. Thêm nữa, Luật lãnh hải của Pháp năm 1888 tuyên bố lãnh hải của Pháp chỉ rộng 3 hải lý trong khi năm 1982 UNCLOS ra đời thì mới hình thành khái niệm vùng đặc quyền kinh tế 12 hải lý. Từ đó Dương Danh Huy đưa kết ra kết luận là kinh tuyến 108°3′ trong công ước 1887 chỉ phân chia đảo và phân chia lãnh hải ven bờ chứ chưa phân định phần lớn Vịnh Bắc Bộ, vì vậy việc phân định (năm 2000) là cần thiết.

Nhiều chuyên viên ngoại quốc cũng ghi nhận việc Việt Nam nhượng bộ, nhất là trên phương diện hai đảo Bạch Long Vĩ và đảo Cồn Cỏ. Theo đó thì hai hải đảo này không được coi là có giá trị toàn phần. Bạch Long Vĩ chỉ có giá trị 25% và Cồn Cỏ có giá trị 50% khi đối chiếu với bờ biển đảo Hải Nam. Nếu hai hải đảo này có giá trị 100% thì biên giới vùng biển sẽ lệch hẳn về phía đông, có lợi cho Việt Nam nhưng thiệt hại cho Trung Quốc.

Về mặt ngư nghiệp thì khu đánh cá chung phần lớn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Theo ước tính thì mỗi năm khu đánh cá chung có thể cung cấp 600.000 tấn cá nhưng số lượng cá thu hoạch đã vượt một triệu tấn cá, gây nguy cơ làm kiệt quệ nguồn cá.

– Quan điểm thứ hai của bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Dy Niên thì cho rằng hiệp định Vịnh Bắc Bộ năm 2000 là công bằng. Tuy vậy khi phân tích đường trung tuyến trong vịnh do Quỹ Nghiên cứu Biển Đông thực hiện lại cho thấy khi vẽ các đường tròn có tâm là 21 điểm phân định thì bên Việt Nam bị lấn từ 3 cho đến 27 hải lý ở khu vực các đảo Vĩnh Thực, đảo Trần, đảo Thanh Lam, đảo Cô Tô tỉnh Quảng Ninh, đảo Bạch Long Vĩ thuộc Hải Phòng, vùng cửa Ba Lạt, bờ biển Ninh Bình và khu vực nam Hà Tĩnh đối chiếu với bờ tây và bờ nam đảo Hải Nam của Trung Quốc. Do đó, Dương Danh Huy kết luận quan điểm cho rằng hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ năm 2000 là công bằng vẫn chưa thuyết phục.

184- Bộ Ngoại giao Trung Cộng công bố tài liệu về Nam Sa (17-11-2000)

Ngày 17-11-2000 tại Bắc Kinh, trang mạng chính thức của Bộ Ngoại giao Trung Cộng đăng tài liệu về ‘Nansha Islands’. Nội dung như sau:

(http://www.fmprc.gov.cn/mfa_eng/topics_665678/3754_666060/t19232.shtml)

International Recognition Of China’s Sovereignty over the Nansha Islands

  1. Many countries, world public opinions and publications of other countries recognize the Nansha Islands as Chinese territory.
  2. The United Kingdom of Great Britain and the Northern Island
  3. a) China Sea Pilot compiled and printed by the Hydrography Department of the Royal Navy of the United Kingdom in 1912 has accounts of the activities of the Chinese people on the Nansha Islands in a number of places.
  4. b) The Far Eastern Economic Review (Hong Kong) carried an article on Dec. 31 of 1973 which quotes the British High Commissioner to Singapore as having said in 1970: “Spratly Island (Nanwei Island in Chinese) was a Chinese dependency, part of Kwangtung Province… and was returned to China after the war. We can not find any indication of its having been acquired by any other country and so can only conclude it is still held by communist China.”
  5. France
  6. a) Le Monde Colonial Illustre mentioned the Nansha Islands in its September 1933 issue. According to that issue, when a French gunboat named Malicieuse surveyed the Nanwei Island of the Nansha Islands in 1930, they saw three Chinese on the island and when France invaded nine of the Nansha Islands by force in April 1933, they found all the people on the islands were Chinese, with 7 Chinese on the Nanzi Reef, 5 on the Zhongye Island, 4 on the Nanwei Island, thatched houses, water wells and holy statues left by Chinese on the Nanyue Island and a signboard with Chinese characters marking a grain storage on the Taiping Island.
  7. b) Atlas International Larousse published in 1965 in France marks the Xisha, Nansha and Dongsha Islands by their Chinese names and gives clear indication of their ownership as China in brackets.

3) Japan

  1. a) Yearbook of New China published in Japan in 1966 describes the coastline of China as 11 thousand kilometers long from Liaodong Peninsula in the north to the Nansha Islands in the south, or 20 thousand kilometers if including the coastlines of all the islands along its coast;
  2. b) Yearbook of the World published in Japan in 1972 says that Chinese territory includes not only the mainland, but also Hainan Island, Taiwan, Penghu Islands as well as the Dongsha, Xisha, Zhongsha and Nansha Islands on the South China Sea.
  3. The United States
  4. a) Columbia Lippincott World Toponymic Dictionary published in the United States in 1961 states that the Nansha Islands on the South China Sea are part of Guangdong Province and belong to China.
  5. b) The Worldmark Encyclopaedia of the Nations published in the United States in 1963 says that the islands of the People’s Republic extend southward to include those isles and coral reefs on the South China Sea at the north latitude 4°.
  6. c) World Administrative Divisions Encyclopaedia published in 1971 says that the People’s Republic has a number of archipelagoes, including Hainan Island near the South China Sea, which is the largest, and a few others on the South China Sea extending to as far as the north latitude 4°, such as the Dongsha, Xisha, Zhongsha and Nansha Islands.
  7. Viet Nam
  8. a) Vice Foreign Minister Dung Van Khiem of the Democratic Republic of Viet Nam received Mr. Li Zhimin, charge d’affaires ad interim of the Chinese Embassy in Viet Nam and told him that “according to Vietnamese data, the Xisha and Nansha Islands are historically part of Chinese territory.” Mr. Le Doc, Acting Director of the Asian Department of the Vietnamese Foreign Ministry, who was present then, added that “judging from history, these islands were already part of China at the time of the Song Dynasty.”
  9. b) Nhan Dan of Viet Nam reported in great detail on September 6, 1958 the Chinese Government’s Declaration of September 4, 1958 that the breadth of the territorial sea of the People’s Republic of China should be 12 nautical miles and that this provision should apply to all territories of the People’s Republic of China, including all islands on the South China Sea. On September 14 the same year, Premier Pham Van Dong of the Vietnamese Government solemnly stated in his note to Premier Zhou Enlai that Viet Nam “recognizes and supports the Declaration of the Government of the People’s Republic of China on China’s territorial sea.”
  10. c) It is stated in the lesson The People’s Republic of China of a standard Vietnamese school textbook on geography published in 1974 that the islands from the Nansha and Xisha Islands to Hainan Island and Taiwan constitute a great wall for the defense of the mainland of China.
  11. The maps printed by other countries in the world that mark the islands on the South China Sea as part of Chinese territory include:
  12. The Welt-Atlas published by the Federal Republic of Germany in 1954, 1961 and 1970 respectively;
  13. World Atlas published by the Soviet Union in 1954 and 1967 respectively;
  14. World Atlas published by Romania in 1957;
  15. Oxford Australian Atlas and Philips Record Atlas published by Britain in 1957 and Encyclopaedia Britannica World Atlas published by Britain in 1958;
  16. World Atlas drawn and printed by the mapping unit of the Headquarters of the General Staff of the People’s Army of Viet Nam in 1960;
  17. Haack Welt Atlas published by German Democratic in 1968;
  18. Daily Telegraph World Atlas published by Britain in 1968;
  19. Atlas International Larousse published by France in 1968 and 1969 respectively;
  20. World Map Ordinary published by the Institut Geographique National (IGN) of France in 1968;
  21. World Atlas published by the Surveying and Mapping Bureau of the Prime Minister’s Office of Viet Nam in 1972; and
  22. China Atlas published by Neibonsya of Japan in 1973.
  23. China’s sovereignty over the Nansha Islands is recognized in numerous international conferences.
  24. The 1951 San Francisco Conference on Peace Treaty called on Japan to give up the Xisha and Nansha Islands. Andrei Gromyko, Head of the Delegation of the Soviet Union to the Conference, pointed out in his statement that the Xisha and Nansha Islands were an inalienable part of Chinese territory. It is true that the San Francisco Peace Treaty failed to unambiguously ask Japan to restore the Xisha and Nansha Islands to China. But the Xisha, Nansha, Dongsha and Zhongsha Islands that Japan was asked to abandun by the Peace Agreement of San Francisco Conference were all clearly marked as Chinese territory in the fifteenth map A Map of Southeast Asia of the Standard World Atlas published by Japan in 1952, the second year after the peace conference in San Francisco, which was recommended by the then Japanese Foreign Minister Katsuo Okazaki in his own handwriting.
  25. The International Civil Aviation Organization held its first conference on Asia-Pacific regional aviation in Manila of the Philippines on 27 October 1955. Sixteen countries or regions were represented at the conference, including South Viet Nam and the Taiwan authorities, apart from Australia, Canada, Chile, Dominica, Japan, the Laos, the Republic of Korea, the Philippines, Thailand, the United Kingdom, the United States, New Zealand and France. The Chief Representative of the Philippines served as Chairman of the conference and the Chief Representative of France its first Vice Chairman. It was agreed at the conference that the Dongsha, Xisha and Nansha Islands on the South China Sea were located at the communication hub of the Pacific and therefore the meteorological reports of these islands were vital to world civil aviation service. In this context, the conference adopted Resolution No. 24, asking China’s Taiwan authorities to improve meteorological observation on the Nansha Islands, four times a day. When this resolution was put for voting, all the representatives, including those of the Philippines and the South Viet Nam, were for it. No representative at the conference made any objection to or reservation about it.

185- Tuyên bố chung về ứng xử của các bên ở biển Đông Nam Á (4-11-2002)

Ngày 4-11-2002, các nước ASEAN và Trung Cộng đi tới thỏa thuận sau nhiều năm đàm phán và chánh thức cùng nhau ký Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông Nam Á (Declaration on Conduct of the Parties in the South China Sea, DOC), trong khuôn khổ cuộc họp cấp cao ASEAN tại tại Phnom Penh, thủ đô Vương quốc Cambodia.

Nội dung DOC như sau:

Điều 1: Các bên tái khẳng định cam kết của mình đối với các mục tiêu và các nguyên tắc của Hiến chương Liên Hiệp Quốc, Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS), Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác khu vực Đông Nam Á (TAC), Năm nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình (của Trung Quốc) và những nguyên tắc được thừa nhận phổ biến khác của luật pháp quốc tế được coi là quy tắc căn bản điều chỉnh mối quan hệ giữa nhà nước với nhà nước.

Điều 2: Các bên cam kết tìm kiếm những cách thức xây dựng lòng tin và sự tín nhiệm lẫn nhau hài hòa với những nguyên tắc nêu trên và trên căn bản bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau.

Điều 3: Các bên tái khẳng định sự tôn trọng và cam kết của mình đối với quyền tự do hoạt động hàng hải và bay trên vùng trời Biển Đông như đã được quy định bởi các nguyên tắc được thừa nhận phổ biến trong luật pháp quốc tế, kể cả Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982.

Điều 4: Các bên liên quan chịu trách nhiệm giải quyết các tranh chấp về lãnh thổ và về quyền thực thi luật pháp bằng các phương tiện hòa bình mà không viện đến sự đe dọa hoặc sử dụng võ lực, thông qua các cuộc tham vấn thân thiện và những cuộc đàm phán bởi các quốc gia có chủ quyền có liên quan trực tiếp, phù hợp với những nguyên tắc được thừa nhận phổ quát của luật pháp quốc tế, kể cả Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982

Điều 5: Các bên chịu trách nhiệm thực hiện sự tự chế trong việc thi hành các hoạt động có thể gây phức tạp hoặc leo thang tranh chấp, ảnh hưởng tới hòa bình và sự ổn định, kiềm chế không tiến hành đưa người đến sinh sống trên những hòn đảo hiện không có người sinh sống, trên các rặng đá ngầm, bãi cát ngầm, đảo nhỏ và những yếu tố khác và phải được xử lý những khác biệt của mình bằng phương pháp có tính xây dựng.

Trong khi chờ đợi sự dàn xếp hòa bình cho các tranh chấp về lãnh thổ và quyền thực thi pháp luật, các bên liên quan tiến hành tăng cường những nỗ lực nhằm tìm kiếm các phương cách xây dựng lòng tin và sự tín nhiệm lẫn nhau trong tinh thần hợp tác và hiểu biết, bao gồm:

Tổ chức các cuộc đối thoại và trao đổi quan điểm một cách thích đáng giữa các quan chức phụ trách quân sự và quốc phòng;

Bảo đảm đối xử công bằng và nhân đạo đối với tất cả mọi người đang gặp hiểm nguy hoặc tai họa;

Thông báo trên cơ sở tự nguyện cho các bên liên quan khác về mọi cuộc tập luyện quân sự liên kết/hỗn hợp sắp diễn ra;

Trao đổi trên cơ sở tự nguyện những thông tin liên quan.

Điều 6: Trong khi chờ đợi một sự dàn xếp toàn diện và bền vững những tranh chấp, các bên liên quan có thể tìm kiếm hoặc tiến hành các hoạt động hợp tác. Những hoạt động này có thể bao gồm các điều sau đây: Bảo vệ môi trường biển; Nghiên cứu khoa học biển; An toàn hàng hải và thông tin trên biển; Hoạt động tìm kiếm cứu hộ; Đấu tranh chống tội phạm xuyên quốc gia, kể cả nhưng không hạn chế trong hoạt động buôn lậu các loại thuốc cấm, hải tặc và cướp có võ trang trên biển, hoạt động buôn bán trái phép võ khí.

Thể thức, quy mô và địa điểm, đặc biệt là sự hợp tác song phương và đa phương, cần phải được thỏa thuận bởi các bên có liên quan trước khi triển khai thực hiện trong thực tế.

Điều 7: Các bên liên quan sẵn sàng tiếp tục các cuộc đối thoại và tham vấn về những vấn đề liên quan, thông qua các thể thức được các bên đồng ý, kể cả các cuộc tham vấn thường xuyên theo quy định của Tuyên bố này, vì mục tiêu khuyến khích sự minh bạch và láng giềng tốt, thiếp lập sự hợp tác và hiểu biết lẫn nhau một cách hài hòa, và tạo điều kiện thuận lợi cho một giải pháp hòa bình và tran chấp giữa các bên.

Điều 8: Các bên có trách nhiệm tôn trọng những điều khoản của Tuyên bố này và hành động phù hợp với sự tôn trọng đó.

Điều 9: Các bên khuyến khích các nước khác tôn trọng các nguyên tắc bao hàm trong Tuyên bố này.

Điều 10: Các bên liên quan khẳng định rằng việc tiếp thu một bộ quy tắc về ứng xử trên Biển Đông sẽ thúc đẩy mạnh mẽ hơn hòa bình và ổn định trong khu vực và nhất trí làm việc trên căn bản đồng thuận để tiến tới hoàn thành mục tiêu này.

Những nước tham gia ký kết tuyên bố DOC bao gồm Brunei, Cambodia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanma, Philippines, Singapore, Thái Lan, Trung Cộng, Việt Cộng. Tuy cam kết thế, nhưng do không có điều khoản ràng buộc nên Trung Cộng là nước mạnh nhất vẫn luôn tìm mọi cách dùng sức mạnh quân sự để tăng cường quyền kiểm soát trong khu vực, mà các nước liên quan và cộng đồng quốc tế vẫn ‘không làm gì được Trung Cộng’.

186- Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện (5-11-2002)

Trong khuôn khổ của Hội nghị thượng đỉnh ASEAN 8 tại Phnom Penh (Cambodia), các nước ASEAN và Trung Cộng đã ký Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện vào ngày 5-11-2002.

187- Trung Cộng tham gia Hiệp ước TAC (2003)

Năm 2003, Trung Cộng ký tham gia Hiệp ước thân thiện và hợp tác (TAC) với các nước ASEAN.

188- Malaysia và Brunei tranh chấp vùng biển (tháng 5-2003)

Tháng 5-2003, Malaysia và Brunei tranh chấp vùng biển ngoài khơi Bắc Borneo.

189- Hiệp định phân định ranh giới thềm lục địa giữa Việt Nam và Indonesia (26-6-2003)

Ngày 26-6-2003 tại Hà Nội, Chính phủ Việt Cộng và Chính phủ Indonesia đã ký bản Hiệp định phân định ranh giới thềm lục địa giữa Việt Nam và Indonesia.

Nội dung bản Hiệp định bằng Việt ngữ như sau:

Hiệp định giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Indonesia về phân định ranh giới thềm lục địa

Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Indonesia, dưới đây gọi là “các Bên ký kết”

Căn cứ vào Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển ký tại Montego Bay ngày 10 tháng 12 năm 1982 mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Indonesia là các quốc gia thành viên;

Xuất phát từ mong muốn củng cố và phát triển hơn nữa quan hệ hữu nghị sẵn có giữa hai nước;

Nhằm thiết lập đường ranh giới thềm lục địa giữa Việt Nam và Indonesia;

Đã thỏa thuận như sau:

Điều 1- 1. Đường ranh giới thềm lục địa giữa Việt Nam và Indonesia được xác định bằng các đoạn thẳng nối tuần tự các điểm có toạ độ như sau:

H17

Tiếp đó, đường ranh giới này sẽ nối thẳng đến điểm có tọa độ là: vĩ độ 06o18’12” Bắc, kinh độ 109o38’36” Đông (Điểm 25).

  1. Các đoạn thẳng và tọa độ của các điểm nêu tại khoản 1 điều này là các đường trắc địa và tọa độ địa lý được tính toán trên hệ tọa độ trắc địa thế giới năm 1984 (WGS 84) và được thể hiện trên mảnh hải đồ số 3482, tỷ lệ 1:1.500.000 do Hải quân Hoàng gia Anh xuất bản năm 1997, là phụ lục được đính kèm Hiệp định này. Đường ranh giới được thể hiện trên hải đồ đính kèm Hiệp định này chỉ nhằm mục đích minh họa.
  2. Vị trí thực trên biển của các điểm và các đoạn thẳng nêu tại khoản 1 điều này sẽ được xác định bằng các phương pháp do các cơ quan có thẩm quyền của các Bên ký kết thỏa thuận.
  3. Vì mục đích của khoản 3 điều này, cơ quan có thẩm quyền của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Cục Đo đạc và bản đồ thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường và cơ quan có thẩm quyền của nước Cộng hòa Indonesia là Cục Thủy đạc và hải dương học thuộc Hải quân Indonesia.

Điều 2- Hiệp định này sẽ không ảnh hưởng đến bất kỳ hiệp định nào được ký trong tương lai giữa các Bên ký kết về phân định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế.

Điều 3- Các Bên ký kết sẽ tham khảo ý  kiến của nhau nhằm phối hợp chính sách của mình phù hợp với luật pháp quốc tế về bảo vệ môi trường biển.

Điều 4- Trong trường hợp có một cấu tạo  mỏ dầu hoặc khí tự nhiên, hoặc mỏ khoáng sản khác dưới đáy biển nằm vắt ngang đường ranh giới nêu tại khoản 1 Điều 1, các Bên ký kết sẽ thông báo cho nhau mọi thông tin liên quan và thỏa thuận về cách thức khai thác hữu hiệu nhất các cấu tạo hoặc mỏ nói trên và về việc phân chia công bằng lợi ích thu được từ việc khai thác đó.

Điều 5- Mọi tranh chấp giữa các Bên ký kết nẩy sinh trong việc giải thích hoặc thực hiện Hiệp định này sẽ được giải quyết một cách hòa bình thông qua hiệp thương hoặc đàm phán.

Điều 6- 1. Hiệp định này phải được phê chuẩn phù hợp với thủ tục luật pháp của mỗi Bên ký kết.

  1. Hiệp định này sẽ có hiệu lực vào ngày trao đổi các Văn kiện phê chuẩn.
  2. Để làm bằng, các đại diện được Chính phủ nước mình uỷ quyền hợp thức đã ký Hiệp định này.

Làm tại Hà Nội, ngày 26 tháng 6 năm 2003, thành hai bản bằng tiếng Việt, tiếng Indonesia và tiếng Anh, tất cả các văn bản đều có giá trị như nhau. Trong trường hợp có sự khác biệt trong việc giải thích Hiệp định này, văn bản tiếng Anh sẽ được dùng làm căn cứ.

Thay mặt Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt  Nam, Nguyễn Dy Niên, bộ trưởng Bộ Ngoại giao.

Thay mặt Chính phủ nước Cộng hòa Indonesia, N. Hassan Wirajuda, bộ trưởng Bộ Ngoại giao.

H18

190- Hợp tác Trung Cộng – Philippines (9-2004)

Tháng 9-2004, trong chuyến thăm Trung Cộng của tổng thống Philippines, Trung Cộng thuyết phục Philippines để Công ty dầu khí ngoài khơi Trung Quốc (CNOOC) và Công ty dầu khí chi nhánh Philippines (PNOC) ký thỏa thuận thăm dò địa chấn khu vực quần đảo Spratly (Trường Sa). Việt Cộng tuyên bố phản đối thỏa thuận này.

191- Trung Cộng tàn sát ngư dân tỉnh Thanh Hóa (8-1-2005)

Ngày 8-1-2005, Hải quân Trung Cộng bắn chết 9 ngư dân Thanh Hóa tại địa điểm sâu trong lãnh hải Việt Nam thuộc vịnh Bắc Bộ với lý do đưa ra là vì ‘họ có ý định cướp tàu thuyền Trung Quốc’. Khi được trình báo, cơ quan quân sự của Việt Cộng đếm trên thân tàu đánh cá chạy thoát của ông Nguyễn Văn Hoàn (ngư dân xã Hòa Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa) có tới 430 vết đạn bắn và đã xác nhận trong biên bản. Tuy vậy, chánh quyền Việt Cộng vẫn im tiếng.

Mãi đến khi báo chí hải ngoại đồng loạt đưa tin từ ngày 10-1, và sau khi Nguyễn Anh Tuấn phát động chiến dịch thu thập chữ ký trên mạng internet phản đối hành động xâm lấn của Trung Cộng từ ngày 11-1, và tin này được đăng trên báo Tuổi Trẻ TPHCM ngày 12-1 để vận động mọi người cùng ký tên hưởng ứng, thì ngày 13-1-2005, phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Việt Cộng Lê Dũng mới thừa nhận: Chúng tôi coi việc tàu Trung Quốc bắn chết 9 ngư dân Việt Nam và làm bị thương nhiều người khác, gây thiệt hại đến tài sản và ngư cụ của ngư dân Việt Nam là nghiêm trọng. Việt Nam đã yêu cầu phía Trung Quốc có các biện pháp tích cực nhằm ngăn chặn và chấm dứt ngay những hành động sai trái trên, cho điều tra và xử lý nghiêm những kẻ bắn chết người.

Tuy nhiên, phía Trung Cộng không thèm trả lời, và chánh quyền Việt Cộng vẫn không thể làm gì hơn. Trong khi đó trên các trang mạng ở hải ngoại và liên kết với tư nhân trong nước lại sôi nổi chống lại hành vi của Trung Cộng. Trong vòng một tuần lễ, có 88.395 ngàn chữ ký phản đối Trung Cộng, đòi chánh quyền Việt Cộng phải mạnh mẽ can thiệp. Dân chúng trong nước tự phát tổ chức biểu tình trước Tòa đại sứ Trung Cộng tại Hà Nội và trước Tổng lãnh sự ở Sài Gòn. Hàng chục người bị bắt càng làm phẫn nộ dư luận quần chúng và hàng trăm ngàn người dân Việt ở hải ngoại đồng loạt biểu tình ở hàng chục địa điểm khắp thế giới.

Bị rúng động, ngày 20-1-2005, phát ngôn nhân Lê Dũng yếu ớt tuyên bố: Những ngư dân Việt Nam bị cảnh sát biển Trung Quốc tấn công, bắn chết, làm bị thương và bắt giữ vừa qua là những người lao động lương thiện, đang đánh cá bình thường ở phía tây đường phân định vịnh Bắc Bộ trong vùng đánh cá chung. Việc cảnh sát biển Trung Quốc sử dụng vũ khí giết hại những người dân vô tội là sự vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế, Hiệp định phân định Bắc Bộ, Hiệp định hợp tác nghề cá Việt Nam – Trung Quốc cũng như các thỏa thuận của lãnh đạo cấp cao hai nước, làm tổn hại tình cảm hữu nghị giữa nhân dân hai nước.

Tuy nhiên sau đó phía Trung Cộng tiếp tục phớt lờ và Việt Cộng cũng không làm gì được. Chỉ tội cho những ngư dân xấu số ‘sinh ra và hành nghề vào những thời điểm tệ hại nhất trong bốn ngàn năm lịch sử Việt Nam’ nên bị chết oan ức.

192- Ngư dân tỉnh Quảng Ngãi bị Trung Cộng bắt giữ (2000-09)

Theo báo cáo về trên lập tháng 5-2009 của Sở Ngoại vụ tỉnh Quảng Ngãi, tính từ năm 2005 đến quý 1-2009, đã có 74 tàu thuyền và 714 ngư dân của tỉnh Quảng Ngãi bị nước ngoài bắt giữ với cáo buộc xâm phạm lãnh hải, trong đó có 33 tàu cá với 373 ngư dân bị Hải quân Trung Cộng bắt giữ. Mỗi khi bị Trung Cộng bắt, thân nhân của ngư dân phải nộp tiền chuộc từ 50 đến 70 ngàn nhân dân tệ, tương đương 150 đến 180 triệu đồng thì ngư dân mới được trả tự do.

193- Hợp tác Trung Cộng – Việt Cộng – Philippines (14-3-2005)

Ngày 14-3-2005, ba công ty gồm Công ty dầu khí ngoài khơi Trung Quốc (CNOOC), Tổng công ty  dầu khí Việt Nam (Petro Vietnam) và Công ty dầu khí chi nhánh Philippines (PNOC) cùng ký bản thỏa thuận ba bên về tiến hành thăm dò địa chất biển chung trong khu vực xác định tại biển Asean, với thời hạn là ba năm.

194- Quan hệ công khai Trung – Việt (2007)

Năm 2007, trong cuộc gặp Hồ Cẩm Đào – Nông Đức Mạnh, đôi bên tuyên bố nâng cao quyết tâm hợp tác trên tinh thần bốn tốt: láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt.

195- Hoạt động của Đài Loan trên biển Đông Nam Á (12-9-2007)

Ngày 12-9-2007, Đài Loan cho biết sẽ nối lại kế hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng trên đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa trên vùng biển Đông Nam Á.

196- Đài Loan mở rộng căn cứ trên đảo Ba Bình (12-9-2007)

Ngày 12-9-2007, đại diện chánh quyền Đài Loan cho biết sẽ nối lại kế hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng để mở rộng căn cứ quân sự trên đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa.

197- Trung Cộng cấp nhượng quyền công ty ARCO (20-10-2007)

Ngày 20-10-2007, Công ty ARCO của Mỹ và Công ty dầu khí ngoài khơi Trung Quốc (CNOOC) ký hợp đồng khai thác dầu khí tại khu vực tây nam đảo Hải Nam 100 cây số, trong đó có một phần diện tích lấn sang vùng biển thuộc lô 111 và 113 của Việt Nam.

199- Trung Cộng thành lập thành phố Tam Sa (2-12-2007)

Từ 16 đến 23-11-2007, Hải quân Trung Cộng tổ chức tập trận ở khu vực quần đảo Hoàng Sa và khuyến cáo tàu bè không được qua lại.

Ngày 2-12-2007, Quốc vụ viện Trung Cộng phê chuẩn việc thành lập thành phố hành chánh cấp huyện Tam Sa (Sanya) thuộc tỉnh Hải Nam, để trực tiếp quản lý ba quần đảo Trung Sa, Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa). Hành động này dẫn đến hàng loạt cuộc biểu tình phản đối tự phát của người dân ở Việt Nam và ở hải ngoại.

200- Tuyên bố của Bộ Ngoại giao Trung Cộng (11-12-2007)

Ngày 11-12-2007, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Cộng Tần Cương tuyên bố: Việt Nam trong nhiều thời kỳ lịch sử đã có những quan điểm khác nhau về vấn đề chủ quyền này và Trung Quốc hiểu rõ chuyện đó.

201- Ngư dân tỉnh Quảng Ngãi bị Trung cộng sát hại (2007)

Theo báo cáo về trên lập tháng 5-2009 của Sở Ngoại vụ tỉnh Quảng Ngãi, cả năm 2007 có 3 ngư dân tỉnh Quảng Ngãi bị tàu hải quân Trung Cộng bắn chết, 3 người bị thương, trong khi đang đánh cá tại khu vực gần quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam nhưng bị Trung Cộng thôn tính từ năm 1974.

202- Tàu Trung Cộng đâm chìm tàu ngư dân tỉnh Phú Yên (15-1-2008)

Ngày 15-1-2008, tàu Hải quân Trung Cộng xâm phạm sâu trong lãnh hải Việt Nam và đâm chìm một tàu đánh cá của ngư dân tỉnh Phú Yên làm 9 ngư dân thiệt mạng. Vị trí tàu bị đâm chìm là 12050 vĩ độ Bắc và 109040 kinh độ Đông, ở ngay cửa vịnh Vân Phong, cách thành phố Nha Trang chỉ khoảng 40 cây số.

203- Tổng thống Đài Loan thị sát đảo Ba Bình (2-2-2008)

Ngày 2-2-2008, tổng thống Đài Loan Trần Thủy Biển bay ra thăm đảo Taiping Dao (tức Thái Bình đảo; Việt Nam gọi là Ba Bình) thuộc quần đảo Spratly (Trường Sa). Cả Việt Cộng lẫn Philippines đều lên tiếng phản đối.

204- Trung Cộng ngăn cản công ty Esson Mobil hợp tác với Việt Cộng (20-7-2008)

Ngày 20-7-2008, báo South China Morning Post (Hoa Nam Tảo Báo) của Hong Kong loan tin giới ngoại giao Trung Cộng tại Mỹ vừa liên tiếp phản đối ban lãnh đạo công ty Esson Mobil của Mỹ, đồng thời đe dọa rằng ‘công việc kinh doanh của công ty này tại Trung Quốc đại lục sẽ gặp trở ngại trong tương lai nếu Esson Mobil vẫn tiếp tục hợp tác thăm dò và khai thác dầu khí với Petro Việt Nam’ ở khu vực ngoài khơi miền Trung và miền Nam Việt Nam.

205- Phó thủ tướng Malaysia thị sát đảo Layang Layang (8-2008)

Tháng 8-2008, phó thủ tướng Malaysia Najib Tun Razak ra đảo Layang Layang (mà Việt Nam gọi là Hoa Lau) thị sát tình hình và tái khẳng định chủ quyền tại 4 hòn đảo Hoa Lau, Kỳ Vân, Kiệu Ngựa và Louisa thuộc quần đảo Spratly (Trường Sa).

206- Trung Cộng xây dựng căn cứ tàu ngầm Tam Á (4-2008)

Từ tháng 4-2008, những bức ảnh vệ tinh trên mạng internet khẳng định Trung Cộng đang xây dựng một căn cứ tàu ngầm lớn ở Tam Á thuộc tỉnh đảo Hải Nam.

207- Trung Cộng khoan dầu tại biển Đông Nam Á (24-11-2008)

Ngày 24-11-2008, theo Hãng tin Bloomberg, Tập đoàn dầu khí Trung Quốc CNOOC công bố một dự án 29 tỷ đô la để khoan tìm dầu khí trong các khu vực nước sâu tại biển Đông Nam Á.

208- Hạn chế trong yêu sách chủ quyền trên quần đảo Spratly của Philippines (27-12-2008)

Trong bài ‘Có hay không có chủ quyền của Philippines trên quần đảo Trường Sa?‘ (27-12-2008), học giả Đinh Kim Phúc nhận định: Hiệp ước Paris 1898 quy định Philippines nằm ở các tọa độ như đã kể trên, còn quần đảo Trường Sa (Spratly) của Việt Nam nằm vào khoảng 6050′ đến 120 vĩ độ Bắc và từ 111020 đến 117020 kinh độ Đông. Như vậy cho chúng ta thấy rằng Philippines vốn là một quốc gia không có chủ quyền gì tại quần đảo Trường Sa vì Hiệp định Paris năm 1898 được ký kết giữa Tây Ban Nha và Mỹ đã xác định rõ: Lãnh thổ Philippines không bao gồm một đảo nào thuộc quần đảo Trường Sa. Philippines có ý đồ từng bước tranh chiếm quần đảo Trường Sa để mở rộng lãnh thổ của họ về phía Tây và làm cơ sở cho yêu sách của họ trong việc phân chia ranh giới các vùng biển và thềm lục địa với Việt Nam trong biển Đông.

Qua những sự kiện trên đây, chúng ta thấy rõ lập luận của Philippines là không nhất quán:

– Năm 1949, Tổng thống Philippines cho rằng quần đảo Trường Sa nên thuộc về Philippines vì về phương diện địa lý, quần đảo này kề cận với Philippines.

– Năm 1956, Philippines lại lập luận rằng hầu hết các đảo, đá, cồn, bãi trong quần đảo Trường Sa là vô chủ, chỉ có 7 đảo là thược quyền giám hộ của quân Đồng minh.

– Năm 1979, sắc lệnh của Tổng thống Philippines lại giải thích là quần đảo Trường Sa nằm trên thềm lục địa của Philippines.

– Năm 2008 Philippines lại viện dẫn Hiệp ước Hòa bình Paris năm 1898 một cách lặp lờ.

Kết luận: Philippines không có một chứng cứ lịch sử hay cơ sở pháp lý nào để đòi hỏi chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa và hành động xâm chiếm 8 hòn đảo là xâm phạm trái phép đến chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam.

Hiệp ước Hòa bình được ký giữa Tây Ban Nha và Mỹ tại Paris ngày 10-12-1898. Trong đó có điều khoản xác định về lãnh thổ Philippines.

Điều 3 của Hiệp ước này ghi rõ: ‘Tây Ban Nha nhượng lại cho Mỹ quần đảo được cho là thuộc Philippines, bao gồm các đảo nằm trong các tuyến sau: Đường chạy từ Tây sang Đông dọc theo hoặc gần vĩ tuyến 20 vĩ độ Bắc, xuyên qua eo Bachi mà tàu bè đi lại được, từ kinh tuyến thứ 118 đến 127 kinh độ Đông Greenwich, từ đó chạy dọc theo kinh tuyến 127 thuộc kinh độ Đông Greenwich đến vĩ tuyến 4045′ thuộc vĩ độ Bắc và từ vĩ tuyến 4045′ thuộc vĩ độ Bắc đến phần giao nhau với kinh tuyến 119035′ phía Đông Greenwich và từ đây kéo đến vĩ tuyến 7040′ thuộc vĩ độ Bắc, từ tọa độ này kéo dài đến chỗ giao nhau với kinh độ 116 thuộc kinh độ Đông, và chạy thẳng đến chỗ giao nhau giữa vĩ tuyến 10 thuộc vĩ độ Bắc với kinh tuyến 118 thuộc kinh độ Đông Greenwich rồi trở về khởi điểm. Mỹ sẽ trả cho Tây Ban Nha số tiền là 20 triệu US.D trong thời hạn 3 tháng sau khi trao đổi sự phê chuẩn của hiệp ước hiện hành.’

Nguyên bản Anh ngữ: Article III. Spain cedes to the United States the archipelago known as the Philippine Islands, and comprehending the islands lying within the following line: A line running from west to east along or near the twentieth parallel of north latitude, and through the middle of the navigable channel of Bachi, from the one hundred and eighteenth (118th) to the one hundred and twenty-seventh (127th) degree meridian of longitude east of Greenwich, thence along the one hundred and twenty seventh (127th) degree meridian of longitude east of Greenwich to the parallel of four degrees and forty five minutes (4 [degree symbol] 45′]) north latitude, thence along the parallel of four degrees and forty five minutes (4 [degree symbol] 45′) north latitude to its intersection with the meridian of longitude one hundred and nineteen degrees and thirty five minutes (119 [degree symbol] 35′) east of Greenwich, thence along the meridian of longitude one hundred and nineteen degrees and thirty five minutes (119 [degree symbol] 35′) east of Greenwich to the parallel of latitude seven degrees and forty minutes (7 [degree symbol] 40′) north, thence along the parallel of latitude of seven degrees and forty minutes (7 [degree symbol] 40′) north to its intersection with the one hundred and sixteenth (116th) degree meridian of longitude east of Greenwich, thence by a direct line to the intersection of the tenth (10th) degree parallel of north latitude with the one hundred and eighteenth (118th) degree meridian of longitude east of Greenwich, and thence along the one hundred and eighteenth (118th) degree meridian of longitude east of Greenwich to the point of beginning.The United States will pay to Spain the sum of twenty million dollars ($20,000,000) within three months after the exchange of the ratifications of the present treaty.

209- Trung Cộng đàn áp ngư dân Việt Nam (10-2-2009)

Ngày 10-2-2009, ba chiếc tàu cá (chủ tàu là Lê Vinh, Đặng Thu và Trần Tùng) chở 34 ngư dân xã An Vĩnh, huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi đánh bắt hải sản ở vùng biển quần đảo Hoàng Sa thì bị hải quân Trung Cộng bắt giữ ở khu vực gần đảo Linh Côn.

Trung Cộng đã tạm giữ tất cả ngư dân trên ba tàu trong bảy ngày, rồi ra quyết định xử phạt về tội ‘xâm phạm chủ quyền lãnh hải Trung Quốc’, với tổng số tiền là 190.000 nhân dân tệ, tương đương 487 triệu đồng Việt Cộng. Do không có tiền nộp nên sau mười ngày bị giam giữ, các ngư dân và 3 tàu bị áp giải về đảo Hải Nam giam giữ tiếp. Trong khi đó gia đình các nạn nhân vẫn không hay biết gì về tung tích người thân. Đến ngày 25-2, phía Trung Cộng mới báo cho đại diện ngoại giao Việt Cộng biết và cho phép ngư dân bị bắt liên lạc gia đình chuẩn bị tiền chuộc. Sau khi làm việc qua đường ngoại giao, và gia đình ngư dân đã nộp đủ tiền phạt, phía Trung Cộng mới chịu bàn giao các ngư dân bị bắt cho đại diện ngoại giao Việt Cộng chở về nước, riêng ba tàu cá và toàn bộ tài sản trên tàu đều bị Trung Cộng tịch thu.

210- Thủ tướng Malaysia thị sát đảo Layang Layang (5-3-2009)

Ngày 5-3-2009, thủ tướng Malaysia Abdullah Ahmad Badawi đi thăm và thị sát đảo Hoa Lau mà Malaysia gọi là Layang Layang thuộc quần đảo Spratly.

211- Trung Cộng mở tour du lịch đảo Phú Lâm (10-3-2009)

Ngày 12-3-2009, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Cộng tuyên bố: Việt Nam hết sức quan ngại và phản đối việc Trung Quốc cho phép Công ty du lịch quốc tế Châu Giang (Hải Nam, Trung Quốc) mở tour du lịch ra đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.

212- Philippines ra luật về đường cơ sở lãnh hải mới (11-3-2009)

Ngày 11-3-2009, nữ tổng thống Philippines Gloria Macapagal-Arroyo ban hành Đạo luật số 9522, nhằm sửa đổi các điều khoản của Đạo luật 3046, như đã được sửa đổi bởi Đạo luật 5446, nhằm xác định đường cơ sở quần đảo của Philippines và nhằm các mục đích khác.

Đạo luật 9522 có nỗ lực ‘đảm bảo sự công nhận của quốc tế đối với đường cơ sở của Philippines‘, đồng thời tái khẳng định chủ quyền Nhóm đảo Kalayaan như trong sắc lệnh số 1596. Đạo luật 9522 đặt Kalayaan dưới ‘chế độ quần đảo’ theo Điều 121 của Công ước Liên Hiệp Quốc về luật biển (UNCLOS) nhằm nâng cấp vai trò hành chánh của Nhóm đảo Kalayaan ‘để Philippines có cơ sở khẳng định chủ quyền không chỉ trong khu vực Kalayaan mà còn các khu vực khác ở quần đảo Spratly‘.

Đường cơ sở mới lần này thay cho đường cơ sở cũ năm 1968, theo đó quản lý quần đảo Spratly và bãi cạn Hoàng Nham theo quy chế đảo của Philippines.

Việt Cộng, Trung Cộng và Đài Loan đều lên tiếng phản đối đạo luật này.

213- Việt Cộng phản đối Trung Cộng (12-3-2009)

Ngày 12-3-2009, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Cộng Lê Dũng tuyên bố: Việt Nam hết sức quan ngại và phản đối việc Trung Quốc cho phép Công ty du lịch quốc tế Châu Giang (Hải Nam, Trung Quốc) mở tour du lịch ra đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.

214- Trung Cộng đưa tàu đến Hoàng Sa (15-3-2009)

Ngày 15-3-2009, hãng tin Tân Hoa Xã của Trung Cộng xác nhận tàu tuần tra đánh cá Ngư Chính 311 đã đến quần đảo Tây Sa (Việt Nam gọi là Hoàng Sa) sau năm ngày xuất phát từ căn cứ ở Quảng Châu.

Nhà chức trách Trung Quốc cho biết đây là chiếc tàu tuần tra đánh cá lớn nhất của nước này, được cải tạo từ một chiếc tàu cứu hộ cũ của Hải quân. Tổng giám đốc Cục Quản lý ngư nghiệp và ngư cảng Nam Hải là Ngô Trang cho biết, tàu Ngư Chính đến Tây Sa để ‘làm nhiệm vụ bảo vệ ngư thuyền, tham gia kiểm soát và giải cứu khẩn cấp’. Đài BBC dẫn lời một số chuyên gia nhận định động thái này của Trung Quốc có liên quan đến việc một số tàu thuộc Hạm đội 7 Mỹ đang tăng cường hoạt động trong vùng biển Đông Nam Á, cũng như việc bà tổng thống Philippines Gloria Arroyo vừa thông qua Luật đường cơ sở mới, tuyên bố chủ quyền về nhóm đảo Kalayaan (tên của Philippines đặt cho quần đảo Trường Sa) và bãi cạn Scarborough hồi tuần trước. Trước đó, ngày 5-3-2009, thủ tướng Malaysia Abdullah Badawi cũng vừa đến thị sát đảo Đá Hoa Lau và tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo này và vùng biển phụ cận.

215- Trung Cộng tăng cường kiểm soát Biển Đông Nam Á (15-3-2009)

Ngày 15-3-2009, Trung Cộng đưa tàu tuần tra đánh cá Ngư Chính 311 đến quần đảo Tây Sa (mà Việt Nam gọi là Hoàng Sa). Tổng giám đốc Cục Quản lý ngư nghiệp và ngư cảng Nam Hải của Trung Cộng là Ngô Trang cho biết, tàu Ngư Chính đến Tây Sa để làm nhiệm vụ bảo vệ ngư thuyền, tham gia kiểm soát và giải cứu khẩn cấp.

Đài BBC dẫn lời một số chuyên gia nhận định động thái này của Trung Cộng có liên quan đến việc một số tàu thuộc Hạm đội 7 Mỹ đang tăng cường hoạt động trong vùng biển Đông Nam Á, cũng như việc bà tổng thống Philippines Gloria Arroyo vừa thông qua Luật về đường cơ sở mới của Philippines, tuyên bố chủ quyền về nhóm đảo Kalayaan (tên của Philippines đặt cho quần đảo Trường Sa) và bãi cạn Scarborough hồi tuần trước. Trước đó, ngày 5-3-2009, thủ tướng Malaysia Abdullah Badawi cũng vừa đến thị sát đảo Đá Hoa Lau và tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo này và vùng biển phụ cận.

216- Đụng độ tàu chiến Mỹ – Trung Cộng trên biển Đông Nam Á (3-2009)

Tháng 3-2009, xảy ra cuộc va chạm giữa tuần dương hạm USNS Impeccable của Mỹ và 5 tàu Trung cộng ở vùng biển cách đảo Hải Nam 125 cây số.

217- Công ty BP ngừng hợp tác với Việt Cộng (20-3-2009)

Do có sự phản đối gay gắt và đe dọa của Trung Cộng, ngày 20-3-2009, Công ty British Petroleum (BP) của Anh tuyên bố rút khỏi dự án dầu khí ở lô số 05.2 và 05.3 thuộc bồn trũng Côn Sơn ngoài khơi Việt Nam.

218- Ngư dân tỉnh Quảng Ngãi bị Trung Cộng bắt giữ (đến quý 1-2009)

Theo báo cáo về trên lập tháng 5-2009 của Sở Ngoại vụ tỉnh Quảng Ngãi, tính từ năm 2005 đến quý 1-2009, đã có 74 tàu thuyền và 714 ngư dân của tỉnh Quảng Ngãi bị nước ngoài bắt giữ với cáo buộc ‘xâm phạm lãnh hải’, trong đó có 33 tàu cá với 373 ngư dân bị Hải quân Trung Cộng bắt giữ. Mỗi khi bị Trung Cộng bắt, thân nhân của ngư dân phải nộp tiền chuộc từ 50 đến 70 ngàn nhân dân tệ, tương đương 150 đến 180 triệu đồng thì ngư dân mới được trả tự do.

219- Nhận định bác bỏ yêu sách chủ quyền của Trung Cộng trên biển Đông Nam Á (9-4-2009)

Theo tiến sĩ Sử học Nguyễn Nhã, trong bài ‘Cần phổ biến rộng rãi tài liệu về Hoàng Sa, Trường Sa‘, đăng trên Tuổi Trẻ Online ngày 9-4-2009, viết: Tất cả tài liệu của các nước, kể cả Trung Hoa, trong đó có cả tập tài liệu đồ sộ dày 795 trang Nam Hải chư đảo sử liệu hội biên (Hàn Chấn Hoa, Lâm Kim Chi, Ngô Phượng Bân, nxb Phương Ðông, 1988) tập hợp đầy đủ nhất tư liệu của Trung Quốc đều không hề nhắc đến bất cứ văn bản nhà nước nào có hành động xác lập hay thực thi chủ quyền trước năm 1909 cả. Trước đó vào năm 1898, chính quyền Quảng Châu, Trung Hoa đã trả lời các khiếu nại của công sứ Anh ở Bắc Kinh về công ty bảo hiểm Anh bảo hiểm các tàu Bellona của Ðức (bị đắm năm 1895) và tàu Humeji – Maru của Nhật (bị đắm năm 1896) đã bị những người Trung Hoa ở Hải Nam cướp phá, rằng: ‘Quần đảo Tây Sa là những hòn đảo bị bỏ rơi, chúng không phải sở hữu của cả Trung Hoa lẫn An Nam, cũng không sáp nhập về hành chính vào bất kỳ quận nào của Hải Nam và không có nhà chức trách nào chịu trách nhiệm về cảnh sát của chúng (Monique Chemillier- Gendreau, sđd, trang 158).

Ðến giữa thập niên 1970, Trung Quốc mới bắt đầu đưa ra luận điểm: Trung Quốc phát hiện sớm nhất, kinh doanh sớm nhất, quản hạt sớm nhất, song hoàn toàn suy diễn, không có bằng chứng hành động cụ thể nào của nhà nước cả.

Trong khi ấy, các học giả Trung Quốc phân tích các bản đồ, tài liệu cổ của Việt Nam nhất thiết cho rằng Hoàng Sa của Việt Nam không phải Tây Sa của Trung Quốc mà chỉ là các hòn đảo ven bờ. Họ cứ nói rồi cũng có người tin. Song chỉ cần nếu ai đọc được tấm bản đồ An Nam đại quốc họa đồ của giám mục Taberd in năm 1838 đính vào cuốn Từ điển Latin – Annam thì không thể nào tin được. Bởi rành rành ghi ‘Paracel seu Cát Vàng’ ở tọa độ hiện nay. Cũng duy nhất trước năm 1909 chỉ có bản đồ người phương Tây ghi ‘Paracel seu (hay là) Cát Vàng’ (chữ nôm của Hoàng Sa).

Trước năm 1909, không hề có bản đồ cổ của phương Tây ghi ‘Paracel seu (hay là) Tây Sa’ cả. Như thế chứng tỏ vào thời điểm đó, cái tên Tây Sa không tồn tại.

220- Việt Cộng và Malaysia đăng ký ‘thềm lục địa mở rộng’ tại Liên Hiệp Quốc (6-5-2009)

Ngày 6-5-2009, Bộ Ngoại giao Việt Cộng và Malaysia nộp bản báo cáo chung đăng ký thềm lục địa mở rộng khu vực phía nam biển Đông Nam Á đến Uỷ ban Ranh giới thềm lục địa của Liên Hiệp Quốc (CLCS). Ngày 7-5-2009, Bộ Ngoại giao Việt Cộng nộp bản báo cáo đăng ký thềm lục địa mở rộng khu vực phía bắc đến Uỷ ban CLCS.

221- Trung Cộng công khai yêu sách ‘Đường lưỡi bò’ (7-5-2009)

Ngày 7-5-2009, Bộ Ngoại giao Trung Cộng tuyên bố bác bỏ yêu sách ‘thềm lục địa mở rộng’ của Việt Cộng và Malaysia, đồng thời gửi công hàm đến tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki Moon để phản đối, trong đó tuyên bố ‘yêu sách chủ quyền lãnh hải và vùng nước phụ cận’ của Trung Cộng. Kèm theo là một bản đồ có vẽ vùng biển với đường ranh giới có 9 đoạn đứt khúc (còn gọi là ‘đường chữ U’, ‘đường lưỡi bò’, ‘đường cửu khúc’); theo đó, Trung Cộng lần đầu tiên công khai chánh thức yêu sách cộng đồng quốc tế phải thừa nhận chủ quyền của Trung Cộng đối với hầu như toàn bộ (khoảng 80%) diện tích vùng biển Đông Nam Á.

Ngay sau đó, Bộ Ngoại giao Việt Cộng và Malysia cũng tuyên bố phản đối công hàm của Trung Cộng và bác bỏ nội dung ‘bản đồ hình lưỡi bò’.

Công hàm ngày 7-5-2009 có lẽ là văn bản đầu tiên trong hơn 60 năm qua thể hiện quan điểm chánh thức của Trung Cộng về yêu sách ‘đường lưỡi bò’ và cũng có lẽ là lần đầu tiên Trung Cộng chánh thức công bố bản đồ ‘đường lưỡi bò’ với toàn thế giới.

Trước đó, mặc dù ‘đường lưỡi bò’ đã được thể hiện nhiều lần trong một số bản đồ của Trung Cộng lưu hành trong và ngoài nước, nhưng Chính phủ Trung Cộng chưa bao giờ có một tuyên bố chánh thức nào trước cộng đồng quốc tế về chủ quyền độc chiếm biển Đông Nam Á. Thậm chí trong những văn bản pháp lý quan trọng của Nhà nước Trung Cộng về biển như các Tuyên bố về Lãnh hải năm 1958, về Lãnh hải và Vùng tiếp giáp năm 1992, về Đường cơ sở năm 1996, và về Vùng đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa năm 1998…, thì khái niệm về ‘đường lưỡi bò” cũng không hề được nhắc tới. Điều này có thấy Chính phủ Trung Cộng đã đến lúc công khai và tự tin thực hiện chánh sách bá quyền của họ trong quan hệ quốc tế.

H19Bản đồ yêu sách chủ quyền vùng biển ‘hình lưỡi bò’ do Trung Cộng gửi kèm Công hàm 7-5-2009)

Theo bài viết ‘Đường lưỡi bò ở đâu ra?‘ của Mỹ Loan đăng trên Tuổi Trẻ Online (1-8-2012), dẫn thông tin từ các học giả Trung Quốc: ‘đường chữ U’ lần đầu tiên xuất hiện trên bản đồ ‘Các đảo trong Biển Hoa Nam’ được Sở Phương vực của Trung Hoa Dân Quốc xuất bản năm 1948. Một số tác giả Trung Hoa còn cố đẩy thời gian xuất hiện của ‘đường lưỡi bò’ xa hơn nhằm mục đích giải thích có lợi cho Trung Hoa. Trong tác phẩm ‘The Chinese U-shaped line in the South China sea: points, lines and zones‘, giáo sư Du Kiếm Hồng của Trường đại học Minh Truyền, Đài Loan cho rằng ‘đường chữ U’ là do một người vẽ bản đồ tư nhân tên Hồ Tấn Tiếp (Hu Jin Jie) vẽ từ năm 1914 sau khi Trung Hoa Dân Quốc ‘giành lại đảo Đông Sa (Pratas) từ nhóm thương gia người Nhật năm 1909‘.

Đường chữ U, theo cách mô tả của giáo sư Du, là một đường liên tục chạy từ biên giới đất liền của Trung Hoa vòng xuống bao lấy đảo Pratas (Đông Sa) và quần đảo Paracel (Tây Sa, Hoàng Sa), xuyên qua eo biển Đài Loan và dừng ở đường tiếp giáp giữa biển Hoa Đông và Hoàng Hải. Nếu nhìn vào lý luận của giáo sư Du thì điểm cuối của đường chữ U chỉ nằm ở khoảng vĩ tuyến 16 chứ không kéo dài tận quần đảo Spratly (Nam Sa, Trường Sa) như hiện nay. Song cho đến nay không một tài liệu nào của Trung Cộng lẫn Đài Loan nói rõ về gốc tích nhân vật Hồ Tấn Tiếp cũng như đường chữ U kiểu này.

Thế nhưng, một số học giả Trung Quốc lại dẫn chứng trước bản đồ ’11 đoạn’ Trung Hoa còn có các bản đồ được vẽ từ tháng 12-1934 và tháng 4-1935. Trên tờ Tri Thức Thế Giới tháng 9-2011, giáo sư Trần Kim Minh ở Đại học Phước Đán đã ‘hàm hồ’ lý giải rằng do lo sợ trước việc Pháp chiếm chín đảo ở quần đảo Trường Sa năm 1933, Chánh phủ Trung Hoa Dân Quốc đã nhanh chóng lập ‘Ủy ban thẩm định bản đồ biển và đất liền’ để thẩm định lại tên các đảo và bãi đá ở khu vực biển Đông Nam Á bằng Hán ngữ và Anh ngữ.

Công việc thẩm định này hoàn tất vào ngày 21-12-1934 và bốn tháng sau đó đã chánh thức công bố ‘Bản đồ các đảo ở Nam Hải’, xác định đường ranh giới chủ quyền trên biển của Trung Hoa Dân Quốc kéo dài đến vĩ tuyến 4. Sau đó, năm 1936 nhà địa lý học Bạch Mi Sơ (Bai Mei Chu) đã vẽ lại rồi đưa bản đồ này vào tập bản đồ ‘Trung Hoa kiến thiết toàn đồ’ do ông chủ biên, để thể hiện cảm xúc của mình khi nghe tin Pháp tuyên bố chủ quyền ở Trường Sa năm 1933. Song, hình hài của những tấm bản đồ tiền thân này dường như chưa bao giờ được nhìn thấy, thay vào đó chúng chỉ được mô tả qua lời của các truyền nhân ở Trung Hoa đại lục, Đài Loan và Hong Kong. Tuy nhiên họ cũng thừa nhận: ‘Không rõ khi vẽ đường này, nhà địa lý học Bạch Mi Sơ có đủ hiểu biết và kiến thức về luật biển quốc tế đương đại hay không?‘.

Giới học giả Trung Hoa hiện đang khẳng định: chuyến thị sát biển Đông Nam Á của Lâm Tuân vào cuối năm 1946 mới chính là tiền đề hình thành cái gọi là bản đồ có đường chữ U ngày nay.

Và năm 2011, các hãng truyền thông lớn của Trung Cộng đồng loạt đưa bài phân tích của giáo sư Lý Kim Minh và Lý Đức Hà thuộc Đại học Hạ Môn, tỉnh Phước Kiến nhất nhất khẳng định tiền thân của ‘đường chữ U’ là tấm bản đồ ’11 đoạn’, vẽ vị trí các đảo ở biển ‘Nam Hải’, do Sở Phương vực thuộc Bộ Nội chánh Trung Hoa Dân Quốc vẽ năm 1947 và xuất bản vào tháng 2-1948.

H20Bản đồ ‘Nam Hải chư đảo vị trí đồ’ do Sở Phương vực xuất bàn năm 1948 (ảnh: hudong.cn)

Theo tư liệu của Tân Hoa Xã, Trung Cộng: sau khi trù bị mọi phương án ra khơi, ngày 24-10-1946 đội tàu bốn chiếc Thái Bình, Vĩnh Hưng, Trung Kiến, Trung Nghiệp của Hải quân Trung Hoa Dân Quốc do tổng chỉ huy Lâm Tuân và phó tướng Diêu Nhữ Ngọc đã xuất phát từ cửa sông Hoàng Phố ở Thượng Hải hướng thẳng về Quảng Châu để ra biển ‘Nam Hải’, với chiêu bài là giải giới quân Nhật. Ba ngày sau đó, đoàn đội Lâm Tuân đã được lãnh đạo Quảng Đông lúc bấy giờ là La Trác Anh làm tiệc rượu tiếp đón nồng hậu tại cảng Du Lâm của Quảng Châu rồi thẳng tiến ra biển ‘Nam Hải’.

Một tư liệu khác từ Hong Kong có thêm tình tiết: sau khi đến Quảng Châu, do thời tiết ở Quảng Châu khi ấy đột ngột chuyển biến xấu nên cả đoàn tàu phải neo đậu tại cảng này đến hơn một tháng. Khoảng 8 giờ sáng 9-12-1946, đoàn tàu chiến bốn chiếc chia làm hai đội đã từ từ rời cảng Du Lâm, hướng thẳng về phía nam. Phó tổng chỉ huy Diêu Nhữ Ngọc chỉ huy hai tàu Vĩnh Hưng và Trung Kiến tiến xuống quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa). Tổng chỉ huy Lâm Tuân dẫn đầu hai con tàu Trung Nghiệp và Thái Bình hướng đến quần đảo Nam Sa (Trường Sa).

Hai chiếc Vĩnh Hưng và Trung Kiến sau đó đã đến đảo Phú Lâm, đảo chánh ở quần đảo ‘Nam Sa’. Sau khi lên đảo, đoàn người của Diêu Nhữ Ngọc đã đổi tên đảo Phú Lâm thành đảo Vĩnh Hưng. Còn tổng chỉ huy Lâm Tuân theo tàu Thái Bình hướng thẳng đến quần đảo ‘Nam Sa’. Về chi tiết này, giáo sư Lý Kim Minh của Trung Cộng cho rằng gần một tháng sau đó, tháng 12-1946 hai tàu do Lâm Tuân dẫn đầu mới đổ bộ lên đảo Itu Aba (tức đảo Ba Bình) thuộc quần đảo ‘Nam Sa’. Lâm Tuân lấy tên con tàu Thái Bình để đặt tên cho đảo này.

Ngoài đoàn thủy thủ, hai con tàu này còn chở theo một số quan chức hành chánh của tỉnh Quảng Đông, trong đó có thầy trò Trịnh Tư Duyệt và Tào Hi Mãnh là hai nhân viên của Sở Phương vực thuộc Bộ Nội chánh của Chánh phủ Trung Hoa Dân Quốc. Theo tư liệu của Trung Cộng thì hai người này đi theo để làm nhiệm vụ tiếp nhận quần đảo ‘Nam Sa’. Ngày 15-12-1946, toàn thể quan binh văn võ đi theo hai tàu này đã có mặt ở đảo này để tiến hành nghi thức dựng bia, tiếp nhận đảo.

Theo bình luận của nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc: Khi thương nghị với các nước thuộc phe đồng minh về việc giải giới và xử lý đối với Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai, trong Tuyên bố Potsdam đưa ra ngày 24-7-1945 giữa Harry S.Truman (tổng thống Hoa Kỳ), Winston Churchill (thủ tướng Anh) và Tưởng Giới Thạch (tổng thống Trung Hoa Dân Quốc) đã không yêu cầu ‘thu hồi’ Hoàng Sa và Trường Sa về cho Trung Hoa, vì một lẽ đơn giản là hai quần đảo này không thuộc Trung Hoa.

Điều này là lý do giải thích vì sao tại Hội nghị San Francisco 1951 sau đó, các nước đồng minh đã không yêu cầu Nhật Bản trao trả cho Trung Hoa ‘quần đảo Tân Nam’ (Shinnan Shoto, Trường Sa) và một phần quần đảo Hoàng Sa mà quân đội Nhật đã chiếm đóng, xây dựng căn cứ quân sự trong Thế chiến thứ hai. Và như vậy, việc đưa tàu chiến ra chiếm đóng Hoàng sa – Trường sa của tướng Lâm Tuân năm 1946 là một cưỡng chiếm bất hợp pháp.

(Mỹ Loan – http://chuyentrang.tuoitre.vn/Vieclam/Index.aspx?ArticleID=504486&ChannelID=89)

Như đã nói, ‘đường lưỡi bò’ khởi thủy có 11 đoạn, đến năm 1953, đường 11 đoạn được Trung Cộng điều chỉnh lại thành 9 đoạn như ngày nay, bỏ 2 đoạn trong Vịnh Bắc Bộ. Đáng lưu ý là đến nay không có bất kỳ tài liệu nào cho biết tọa độ cũng như vị trí chánh xác của ‘đường lưỡi bò’. Rõ ràng nguồn gốc và ý nghĩa của ‘đường lưỡi bò’ hoàn toàn mập mờ, không chánh xác đến nỗi bản thân các học giả Trung Hoa cũng không thống nhất được một sự giải thích hợp lý nào. Thậm chí, có học giả Trung Cộng còn cho rằng ‘không có cơ sở nào trong luật quốc tế cho yêu sách lịch sử đó‘ (Yann Huei Song). Gần đây, trên các trang mạng của Trung Quốc cũng xuất hiện nhiều ý kiến của chính người Trung Quốc thắc mắc về việc ‘tại sao lại vẽ Nam Hải của chúng ta tới tận cửa nhà người ta?’.

‘Đường chữ U’ còn mâu thuẫn ngay với quan điểm chánh thức của Trung Cộng từng nêu trong Tuyên bố ngày 4-6-1958 về các vùng biển Trung Quốc. Trong Tuyên bố này rõ ràng Trung Cộng công nhận rằng các đảo bị tách biệt với lục địa bởi biển cả, chứ không phải bởi các vùng nước lịch sử. Trong Luật về lãnh hải và vùng tiếp giáp năm 1992, Trung Cộng cũng chỉ nêu đòi hỏi lãnh hải 12 hải lý xung quanh những vùng đất yêu sách chủ quyền và vùng tiếp giáp 12 hải lý dành cho thuế quan và các mục đích tương tự chứ không hề dám xác định ‘vùng nước lịch sử’.

222- Trung Cộng ra lệnh cấm biển Đông Nam Á (13-5-2009)

Ngày 13-5-2009, Bộ Nông nghiệp Trung Cộng lấy lý do ‘bảo vệ nguồn cá’, đã ra lệnh cấm đánh bắt hải sản từ 12 giờ ngày 16-5-2009 đến 12 giờ ngày 1-8-2009.

H21H1Khu vực biển cấm của Trung Cộng năm 2009

Ngày 25-5-2009, trên trang mạng Trung Quân, một diễn đàn viết bằng Hán ngữ do mật vụ Trung Cộng lập ra, có bài viết: Trung Quốc cứng rắn ra lệnh cấm đánh cá đã 12 ngày mà không có ai dám trái ý Trung quốc. …Chỉ cần Trung Quốc đằng hắng một cái là các tiểu quốc Đông Nam Á sợ quýnh cả lên.

223- Việt Cộng với lệnh cấm biển của Trung Cộng (5-6-2009)

Ngày 5-6-2009, cục trưởng Cục Khai thác bảo vệ nguồn lợi thủy sản Việt Cộng là Chu Tiến Vĩnh cho biết đang phối hợp với các địa phương ven biển tổ chức các lớp tập huấn, tuyên truyền cho ngư dân về các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam và các nước lân cận về vùng được phép khai thác, đặc biệt tại các tỉnh miền Trung. Tại buổi tập huấn, cán bộ Việt Cộng phổ biến về lệnh cấm đánh cá của Trung Quốc tại khu vực ngoài khơi và yêu cầu ngư dân chấp hành tốt để tránh xảy ra trường hợp va chạm đáng tiếc.

Ngày 8-6-2009, cục trưởng Cục Khai thác bảo vệ nguồn lợi thủy sản Việt cộng lại nói: Cục có đưa ra khuyến cáo với bà con ngư dân, tại vùng biển Việt Nam quản lý, bà con ngư dân vẫn khai thác bình thường, không có vấn đề gì. Tuy nhiên cũng cảnh báo ngư dân lưu ý ở vùng giáp ranh, tránh những nơi mà tàu thuyền có thể vì sóng gió trôi dạt sang bên mà bạn quản lý.

Ngày 9-6-2009, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Cộng Tần Cương tuyên bố: Việc cấm đánh bắt trong mùa hè ở Nam Hải là biện pháp hành chánh thông thường và đúng đắn của Trung Quốc, có mục đích bảo tồn nguồn lợi hải dương trong vùng lãnh hải Trung Quốc. Tóm lại lệnh cấm đánh bắt cá này là cần thiết và không thể tranh cãi.

Ngày 10-6-2009, tờ Đông Phương Nhật Báo của Trung Cộng xuất bản tại Hong Kong có bài bình luận: Lệnh cấm đánh bắt ở Nam Hải của Trung Quốc thật ra là để thăm dò ý chí của Việt Nam. Việc điều chỉnh thời hạn cấm đánh bắt là lời cảnh báo Việt Nam không nên đi quá xa. Thực tế việc điều chỉnh này là để cho Việt Nam có hành động trước, sau đó thì Trung Quốc mới ra tay mà không mang tiếng là bắt nạt kẻ yếu.

Ngày 11-6-2009, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Cộng tuyên bố phản đối Indonesia bắt giữ 75 ngư dân Trung Quốc đang đánh bắt cá tại vùng biển truyền thống Nam Hải.

Ngày 12-6-2009, trả lời phỏng vấn báo Sài Gòn Giải Phóng của Thành ủy Đảng Việt cộng TPHCM, đại tướng chủ nhiệm Tổng cục Chính trị quân đội Việt Cộng Lê Văn Dũng cho biết là Bộ Ngoại giao và các cơ quan chức năng đang làm việc để chống lại lệnh cấm biển phi pháp của Trung Quốc, nhưng ông khuyên ngư dân Việt Nam tạm thời không nên vào đánh bắt thủy sản trong vùng cấm biển của Trung Quốc để tránh sự cố đáng tiếc trước mắt.

Chiều 12-6-2009, tổng bí thư Đảng Việt Cộng Nông Đức Mạnh trong buổi tiếp trưởng Ban Tổ chức trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc Lý Nguyên Triều, đã nhấn mạnh: Chuyến thăm lần này của đoàn thể hiện sự quan tâm và coi trọng của lãnh đạo cấp cao Trung Quốc đối với việc thúc đẩy quan hệ giữa hai đảng, hai nước, là biểu hiện sinh động của việc xây dựng quan hệ đối tác hợp tác  chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc; đánh giá cao việc hai nước hợp tác có hiệu quả ở các cấp, các ngành, các tổ chức nhân dân, đưa quan hệ đối tác hợp tác  chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc lên một tầm cao mới.

224- Ngư dân Việt Nam điêu đứng vì lệnh cấm biển (tháng 5, 6, 7-2009)

Đầu tháng 5-2009, nhiều tờ báo và trang mạng ở Việt Nam và hải ngoại loan tin có hàng ngàn tàu cá ở miền Trung phải nằm bờ vì ngoài biển khơi đang bị Trung Quốc phong tỏa. Nhiều ngư dân đã phải bán đổ, bán tháo phương tiện làm ăn sinh sống của mình, hoặc tập trung cào quét đến cạn kiệt nguồn hải sản gần bờ.

Ngày 19-5-2009, một tàu câu mực của ngư dân Việt Nam bị tàu hải quân Trung Cộng đâm chìm.

H22Hàng trăm tàu cá nằm bờ trên sông Hàn (Đà Nẵng) vì lệnh cấm biển của Trung Cộng

H23Tàu cá ở Bà Rịa Vũng Tàu nằm bờ vì lệnh cấm biển của Trung Cộng

Theo báo cáo về trên của Uỷ ban nhân dân huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, trong sáu tháng đầu năm 2009, đã có 6 tàu đánh bắt xa bờ của dân huyện Lý Sơn bị lực lượng tuần tra Trung Cộng bắt giữ trong khi đang hành nghề trong vùng biển Hoàng Sa.

Lần thứ nhất vào tháng 2-2009, Trung Cộng bắt ba tàu, ra lệnh phạt tổng cộng 190.000 nhân dân tệ, tương đương 487 triệu đồng, sau khi ngư dân nộp phạt xong đã được thả về nước.

Lần kế vào tháng 6-2009, Trung Cộng bắt giữ ba tàu và 37 ngư dân, ra lệnh phạt 210.000 tệ, tương đương 540 triệu đồng. Lúc 10 giờ ngày 16-6-2009, tàu cá QNg 6463-TS do Bùi Văn Thuế làm thuyền trưởng và tàu QNg 6597-TS do Dương Văn Hưởng làm thuyền trưởng, mỗi tàu đều có 12 ngư dân thuộc xã An Hải, huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, đang đánh bắt cá tại tọa độ 16040 vĩ Bắc – 112058 kinh Đông, thì bị tàu Hải quân Trung Cộng bắt giữ kéo về đảo Phú Lâm.

Ngày 16-6-2009, ba tàu đánh cá chở 37 ngư dân huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi đang hành nghề lưới câu gần khu vực quần đảo Hoàng Sa thì bị Hải quân Trung Cộng bắt giữ đưa vào đảo Hoàng Sa. Trung Cộng đã lập biên bản phạt ba tàu về tội ‘xâm phạm chủ quyền lãnh hải Trung quốc’, với tổng số tiền là 210.000 nhân dân tệ, tương đương 540 triệu đồng Việt Cộng. Do không có tiền nộp phạt nên Trung Cộng chỉ cho một tàu là QNg 6597-TS với 25 người trở về ngày 25-6 để lo tiền chuộc sau khi tịch thu hết mọi tài sản trên tàu, còn lại hai tàu (QNg 6364-TS, QNg 6517-TS) và 12 ngư dân vẫn bị giam giữ.

Lúc 13 giờ ngày 17-6-2009, tàu QNg 6517-TS do Nguyễn Chí Thạnh làm thuyền trưởng, cùng 13 ngư dân đảo Lý Sơn-tỉnh Quảng Ngãi, với lý do đang trên đường tránh cơn bão số 2, khi đến tọa độ 16040 vĩ Bắc – 112045 kinh Đông, cách đảo Linh Côn thuộc quần đảo Hoàng Sa khoảng 12 hải lý về phía đông nam cũng bị tàu hải quân Trung Cộng số hiệu 309 bắt giữ kéo về đảo Phú Lâm. Ngày 21-6, Trung Cộng cho 25 người lên một chiếc tàu về nhà, mang theo tờ lệnh phạt 540 triệu đồng. Còn lại hai tàu, 12 ngư dân trong đó có hai thuyền trưởng với toàn bộ tài sản trên ba tàu vẫn bị giam giữ. Trung Cộng ra thời hạn trong vòng 10 ngày phải nộp tiền phạt để thả tàu, quá thời hạn đó sẽ bị tịch thu tàu và đưa người bị giam về tỉnh Hải Nam giao cho công an điều tra kết án. Tuy nhiên đến 27-6-2006, ngư dân đã nộp xong tiền phạt nên Trung Cộng đã giữ lời hứa, thả số người và tàu còn lại về nước sau khi tịch thu cá và tài sản trên tàu.

Ngày 26-6-2009, phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Việt Cộng cho biết, ngày 21-6-2009, Trung Cộng đã ‘bắt 3 tàu cá của ngư dân tỉnh Quảng Ngãi khi đang hành nghề đánh cá bình thường trong khu vực vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. …Ngày 22-6-2009, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gửi công hàm cho Đại sứ quán Trung Quốc yêu cầu phía Trung Quốc thả ngay các ngư dân và các tàu cá nói trên’.

Tuy nhiên, các hành động bắt bớ tàu cá Việt Nam đang hành nghề trên vùng biển chủ quyền của Việt Nam vẫn tiếp diễn, Trung Cộng ngày càng thực hiện với cường độ gia tăng hơn trong thời gian tiếp sau đó.

H24

H25Anh Dương Văn Thọ (chủ tàu QNg 6597-TS) và quyết định xử phạt của Trung Cộng; chiếc tàu bị tịch thu hết tài sản

225- Trung Cộng thị uy trên biển Đông Nam Á (1-7-2009)

Lúc 10 giờ ngày 1-7-2009, tờ China Daily của chánh quyền Trung Cộng đăng tin ảnh ‘Drill conducted for sea territory protection’, chụp 7 chiếc tàu tuần ngư, trong đó có chiếc lớn nhất Ngư Chính 311 và một trực thăng tại cảng Tam Á, tỉnh Hải Nam để kỷ niệm 5 năm ngày ký kết thắng lợi hiệp định Phân định vịnh Bắc Bộ với Việt Cộng (30-6-2004). Một quan chức tuyên bố Trung Quốc sẽ tăng cường tuần tra ở Nam Hải để bảo vệ ngư dân trong tình hình tranh chấp đang tăng lên với các nước lân cận. Nguyên văn: A drill of seven vessels, including Chinas largest fishery patrol ship, China Yuzheng 311, and a helicopter is held in Sanya, south Chinas Hainan province to mark the 5th signing anniversary of the Demarcation Agreement on Beibu Bay, signed by China and Vietnam, June 30, 2009. China will intensify patrols in the South China Sea to protect its fishermen amid a rising tide of disputes with neighboring countries, an official said Tuesday.

H26

H27

Trả lời phỏng vấn đài BBC ngày 1-7-2009, quan chức Cục Quản ly ngư nghiệp và ngư cảng Trung Quốc Ngô Truờng nói: Đôi khi phải mất nhiều năm thì các ngư dân Trung Quốc bị nước ngoài bắt giữ mới được trả tự do và thông thường thì tàu thuyền và thiết bị đánh cá bị tịch thu. Tờ China Daily đăng lời của Ngô Trường tuyên bố: Trung Quốc thường không bắt giữ ngư dân nước ngoài vi phạm lãnh hải. Trung Quốc chọn việc giáo dục, cảnh cáo hay đuổi những ai đánh cá trái phép trong lãnh hải của mình.

Lúc 1 giờ 30 sáng 15-7-2009, trong khi đang đánh bắt cá tại tọa độ 13045 vĩ Bắc – 110032 kinh Đông trên vùng biển giáp ranh giữa tỉnh Bình Định và Phú Yên, cách Bình Định chừng 200 cây số, chiếc tàu cá QNg 2203 có 9 ngư dân tỉnh Quảng Ngãi đã bị một tàu hải quân Trung Cộng đâm chìm, làm 7 người bị thương rất nặng. May nhờ chiếc tàu cá QNg 2416 cũng đang đánh cá gần đó phát hiện và cấp cứu rồi chở số nạn nhân vào đất liền.

226- Thưa kiện về chủ quyền trên biển Đông Nam Á tại Liên Hiệp Quốc (4-8-2009)

Ngày 4-8-2009, Philippines chánh thức gửi công hàm lên tổng thư ký Liên Hiệp Quốc để phản đối bản báo cáo của Việt Cộng đăng ký thềm lục địa mở rộng khu vực phía bắc và của Việt Cộng và Malaysia đăng ký thềm lục địa mở rộng khu vực phía nam biển Đông Nam Á. Cả Việt Cộng lẫn Malaysia đều phản đối công hàm của Philippines.

227- Tranh chấp Trung Cộng – Philippines về Bãi Cỏ Rong (14-8-2009)

Ngày 14-8-2009, đại sứ Trung Cộng tại Philippines Lưu Kiến Siêu tuyên bố: Trung Quốc phản đối những kế hoạch khai thác dầu khí của Philippines ở Bãi Cỏ Rong trên biển Asean và cho rằng hành động này là vi phạm chủ quyền của Trung Cộng. Bãi Cỏ Rong thuộc quần đảo Spratly (Trường Sa) nằm cách đảo Palawan khoảng 100 cây số về phía tây.

228- Báo Đảng Việt Cộng ca ngợi hành vi xâm lược Hoàng Sa và Trường Sa của Trung Cộng (27-8 đến 9-9-2009)

Từ ngày 27-8 đến 9-9-2009, trang báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam đăng bản tin nguyên văn như sau: Hải quân Trung Quốc diễn tập tại biển Đông – Ngày 16-8-2009, đội tàu hộ tống của Trung Quốc sau khi thực hiện nhiệm vụ hộ tống hàng hải đã đi vào biển Đông và tiến hành diễn tập với khoa mục tiếp tế theo đội hình hàng ngang. Theo tinh thần hoạt động “đi một bước, luyện tập một bước, nghiên cứu một bước”, Đội tàu hộ tống trên đường quay trở về căn cứ đã tiến hành các cuộc diễn tập và nghiên cứu đấu pháp quân sự, tập trung thử nghiệm và nâng cao khả năng chỉ huy tác chiến, khoảng cách bảo đảm, phòng vệ cơ động. Ngày 18-8-2009, đội tàu hộ tống gồm hơn 100 sĩ quan và binh lính đã cập bến bãi đá Vĩnh Thử (đảo Chữ Thập) thuộc quần đảo Trường Sa để tiến hành tiếp tế, hậu cần, tham quan cơ sở công tác và sinh hoạt của binh lính trên đảo, đồng thời đưa hai tàu chở trực thăng là Thâm Quyến và Hoàng Sơn cặp đảo, tiến hành diễn tập cho trực thăng lên xuống và lực lượng đặc nhiệm đổ bộ đường không. Phát biểu với binh lính trên đảo, chỉ huy đội tàu hộ tống – phó tư lệnh Hạm đội Nam Hải nhấn mạnh : “Bất kể là binh sĩ hộ tống hàng hay binh sĩ bảo vệ đảo, đều có chung một sứ mệnh đó là bảo vệ lợi ích quốc gia, hy vọng các binh sĩ tập luyện để bảo vệ tốt biên cương trên biển phía nam Tổ quốc”. Đến 9 giờ 30 phút ngày 18-8-2009, đội tàu đã rời đảo, tiếp tục hành trình quay trở về căn cứ. Ngày 24-8-2009, lực lượng Hải quân Trung Quốc bắt đầu giai đoạn huấn luyện nhảy dù kéo dài hai tháng, các hoạt động huấn luyện này được bắt đầu từ một sân bay ở quần đảo Hoàng Sa. Đây được coi là một hoạt động tập dượt kịch bản đổ bộ bằng đường không của Hải quân Trung Quốc. Một trong những nội dung mới đáng lưu ý trong các hoạt động huấn luyện quân sự năm 2009 là hoạt động huấn luyện nhảy dù từ máy bay trực thăng và từ một sân bay ở quần đảo Hoàng Sa.

229- Hội nghị thượng đỉnh ASEAN – Trung Cộng lần 12 (10-2009)

Tháng 10-2009, do có sự quyết liệt phản đối của Trung Cộng, Hội nghị thượng đỉnh ASEAN – Trung Cộng lần 12 tại Chaam (Thái Lan) đã rút bỏ đề mục về tranh chấp biển Asean ra khỏi chương trình nghị sự.

230- Hải quân Trung Cộng đâm chìm tàu ngư dân Việt Nam (13-3-2010)

Ngày 13-3-2010, 17 ngư dân xã An Hải, huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi đi đánh cá ở khu vực quần đảo Hoàng Sa thì bị tàu Hải quân Trung Cộng đâm chìm giữa biển, làm chết 3 người do kiệt sức. Số ngư dân còn lại bám vào các vật nổi cầm cự suốt 15 giờ và được một tàu buôn chạy ngang phát hiện cứu sống.

231- Tranh chấp giữa Philippines và Trung Cộng ở quần đảo Spratly (tháng 4-2011)

Đầu tháng 4-2011, sau khi một tàu tìm kiếm thăm dò dầu khí của Philippines bị hai tàu tuần tra của Trung Cộng ‘quấy nhiễu’ trên vùng biển nhóm đảo Kalayaan, Philippines cho hai máy bay chiến đấu tới khu vực xảy ra vụ việc, đồng thời gửi công hàm chánh thức đến Liên Hiệp Quốc để phản đối Trung Cộng.

Trong công hàm gửi tới Ban Phụ trách các vấn đề đại dương và Luật biển của Liên Hiệp Quốc, Philippines tuyên bố ‘nhóm đảo Kalayaan là một phần không thể tách rời của Philippines. Philippines có chủ quyền với vùng biển xung quanh hoặc tiếp giáp theo quy định của luật pháp quốc tế, cũng như theo UNCLOS‘. Công hàm cũng bác bỏ yêu sách đường ‘Lưỡi bò 9 đoạn’ mà Trung Cộng đã đệ trình lên Liên Hiệp Quốc vào năm 2009.

232- Tàu Trung Cộng ‘cắt cáp’ tàu Việt Nam (26-5 và 9-6-2011)

Vào ngày 26-5-2011, 3 tàu hải giám Trung Cộng xâm nhập và cắt cáp tàu Bình Minh 2 của Việt Nam đang hoạt động thăm dò dầu khí tại vị trí cách bờ biển tỉnh Phú Yên chỉ 116 hải lý, tức là nằm hoàn toàn trong phạm vi thềm lục địa 200 hải lý của Việt Nam và không thuộc khu vực chồng lấn tranh chấp với nước khác.

Ngày 27-5-2011, Bộ Ngoại giao Việt Cộng gửi Công hàm cho Đại sứ Trung Cộng để phản đối.

Tối 28-5, phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Trung Cộng Khương Du đáp lại rằng những gì họ làm là ‘thực thi luật biển và các hoạt động giám sát là hoàn toàn bình thường trong vùng biển thẩm quyền của Trung Quốc‘.

Ngày 29-5-2011, phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Việt Cộng Nguyễn Phương Nga tiếp tục phản đối hành động trên của Trung Cộng bằng cách tuyên bố rằng ‘các tàu Việt Nam đã thực hiện việc thăm dò hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý của mình, phù hợp với UNCLOS‘.

Ngày 31-5-2011, tàu Viking 2 quốc tịch Na Uy đang thăm dò dầu khí trong vùng biển chủ quyền của Việt Nam lại bị tàu Trung Quốc phá rối. Chiều cùng ngày, một ngư dân Việt Nam bị Trung Cộng bắt giữ và tịch thu tài sản trên vùng biển ở quần đảo Hoàng Sa. Cũng trong ngày đó, phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Trung Cộng lại tuyên bố rằng ‘hành động thực thi luật pháp của các tàu hải giám Trung Cộng chống lại việc các tàu Việt Nam vận hành bất hợp pháp là hoàn toàn chánh đáng‘. Họ còn thúc giục Việt Cộng phải ‘ngay lập tức chấm dứt những hành động xâm phạm và không được gây thêm rắc rối mới‘.

Sáng 9-6-2011, được sự yểm trợ của 2 tàu ngư chính, tàu đánh cá Trung Cộng đã lao vào phá cáp của tàu Viking 2 đang thăm dò địa chấn tại Lô 136.03, tọa độ 6 độ 47,5 phút bắc; 109 độ 17,5 phút kinh đông, ở vị trí hoàn toàn nằm trong vùng thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và nằm sâu trong phạm vi 200 hải lý trên thềm lục địa Việt Nam.

Ngày 11-6, phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Trung Cộng một lần nữa khẳng định rằng, việc ngăn chặn tàu Bình Minh 2 và tàu Viking 2 là việc làm bình thường và hợp lý ở khu vực biển thuộc thẩm quyền và quyền tài phán của Trung Quốc, đồng thời yêu cầu Việt Nam tránh tạo ra những sự cố mới.

H28

H29Tàu hải giám Trung Cộng cắt cáp tàu Bình Minh 2 (26-5-2011)

H30H31Tàu ngư chính 311 tham gia giải cứu cho tàu cá Trung Cộng trong vụ cắt cáp tàu Viking 2 (9-6-2011); Tàu Viking 2

233- Philippines tuyên bố phản đối Trung Cộng (2-6-2011)

Ngày 2-6-2011, tổng thống Philippines Benigno Aquino III tuyên bố sẽ đệ trình thư lên Liên Hiệp Quốc phản đối việc hàng loạt tàu Trung Cộng vừa xâm nhập vùng biển nước này. Ngày 4-6-2011, Bộ Ngoại giao Philippines ra thông báo khẳng định: ‘Hành vi của tàu Trung Quốc xâm phạm hòa bình và ổn định khu vực, vi phạm nghiêm trọng DOC‘.

234- Lý giải về Công hàm 1958 (11-8-2011)

Ngày 11-8-2011, trang mạng Biển Việt Nam có đăng bài ‘ Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam’ của Nhóm Phóng viên Biển Đông, để lý giải về Công hàm 1958 của thủ tướng Việt Cộng Phạm Văn Đồng.

Bài viết có đoạn: (…) Nội dung Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng được thể hiện rất thận trọng, đặc biệt là không hề có việc tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bởi, hơn ai hết, chính Thủ tướng VNDCCH thấu hiểu quyền tuyên bố về lãnh thổ quốc gia thuộc thẩm quyền cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc hội, và việc bảo vệ tòan vẹn lãnh thổ quốc gia luôn luôn là mục tiêu hàng đầu đối với Nhà nước và nhân dân Việt Nam, nhất là trong hoàn cảnh ra đời của Công hàm như đã nêu trên. Công hàm 1958 có hai nội dung rất rõ ràng: Một là, Chính phủ VNDCCH ghi nhận và tán thành việc Trung Quốc mở rộng lãnh hải ra 12 hải lý; Hai là, Chính phủ VNDCCH chỉ thị cho các cơ quan nhà nước tôn trọng giới hạn lãnh hải 12 hải lý mà Trung Quốc tuyên bố. Trong Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có từ nào, câu nào đề cập đến vấn đề lãnh thổ và chủ quyền, càng không nêu tên bất kỳ quần đảo nào như Trung Quốc đã nêu. Do vậy, chỉ xét về câu chữ trong một văn bản có tính chất ngoại giao cũng dễ dàng nhận thấy mọi suy diễn cho rằng Công hàm 1958 đã tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và coi đó là bằng chứng khẳng định Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này là xuyên tạc lịch sử và hoàn toàn không có cơ sở pháp lý. (http://www.vnsea.net/tabid/139/ArticleID/356/language/vi-VN/Default.aspx)

235- Những hạn chế trong yêu sách chủ quyền trên quần đảo Spratly của Philippines (2011)

Theo học giả Võ Xuân Vinh trong bài ‘ Quá trình yêu sách chủ quyền của Philippine đối với quần đảo Trường Sa và cơ sở pháp lý‘ đăng trên trang ‘nghiencuubiendong.vn’ (2011), thì:

– Thực tế Hiến pháp 1935 của Philippines chưa làm rõ chủ quyền của nước này đối với quần đảo Trường Sa.

Điều 1 Hiến pháp Philippines 1935 viết: ‘Philippines bao gồm tất cả lãnh thổ được nhượng lại cho Mỹ theo Hiệp định Paris giữa Mỹ và Tây Ban Nha ngày 10-12-1898, ranh giới được đề cập trong hiệp định này cùng với tất cả các đảo được nêu ra trong hiệp định tại Washington giữa Mỹ và Tây Ban Nha vào ngày 7-11-1900, và trong hiệp định giữa Mỹ và Anh ngày 2-1-1930, và tất cả lãnh thổ mà Chính phủ Quần đảo Philippines hiện nay đang thực thi quyền lực pháp lý’.

Tuy nhiên trên thực tế, không hiệp định nào trong ba hiệp định trên khẳng định Trường Sa thuộc lãnh thổ của Philippines. Đặc biệt, Điều 3 của Hiệp định Paris giữa Mỹ-Tây Ban Nha năm 1898 đã xác định cụ thể tọa độ phạm vi lãnh thổ của Philippines, và theo Điều này thì Trường Sa không thuộc Philippines. Hiệp định Washington giữa Mỹ và Tây Ban Nha năm 1990 có đề cập đến các đảo nằm ngoài các đường vạch ra như trong Điều 3 của Hiệp định năm 1898 nhưng không nói rõ cụ thể là những đảo nào.

– Nếu tính tuyên bố của bộ trưởng Ngoại giao Philippines vào năm 1947 có hiệu lực với cả quần đảo Hoàng Sa thì Philippines đã thiếu đi cả cơ sở chiếm đóng và kiểm soát thực tế lẫn cơ sở chiếm đóng liên tục. Haydee B. Yorac trong bài nghiên cứu đăng trên Tạp chí Luật Philippines năm 1983 đã nhấn mạnh, sau tuyên bố năm 1947, Philippines đã không có thêm sự quan tâm nào cũng như không có khẳng định thực tế quyền thực thi pháp lý của mình.

– Một điểm hạn chế khác trong yêu sách chủ quyền của Philippines đối với quần đảo Trường Sa là áp dụng nguyên tắc vô chủ (res nullius) như trong lý giải của Philippines về sự kiện Cloma năm 1956 thuộc yêu sách đòi chủ quyền mà Philippines đưa ra năm 1971 dưới thời tổng thống Ferdinand Marcos. “Năm 1956, Tomas Cloma ra ‘Tuyên bố với toàn thế giới’ về việc khẳng định quyền sở hữu (ownership) nhờ phát hiện và chiếm đóng lãnh thổ gồm 33 đảo, đảo cát thấp nhỏ (sands cays), cồn cát ngầm (sands bars), các dải đá ngầm san hô (coral reefs) và các bãi đánh cá (fishing grounds) ở Trường Sa trải dài trên diện tích 64.976 dặm vuông’. Tuyên bố này đã làm cho Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và Việt Nam Cộng Hòa đưa ra tuyên bố phản đối”.

Ngoài ra, Philippines cũng thiếu nhiều lý lẽ thuyết phục khác trong việc khẳng định chủ quyền của mình trên quần đảo Trường Sa như trong các phản đối Đài Loan và Việt Nam Cộng Hòa vào các năm 1971 và 1974, Philippines đều đưa ra lý lẽ rằng Kalayaan không thuộc quần đảo Trường Sa.

236- Việt Cộng thông qua Luật Biển (21-6-2012)

Ngày 21-6-2012, kỳ họp thứ 3 Quốc hội Việt Cộng khóa 13  đã bỏ phiếu thông qua Luật Biển Việt Nam gồm 7 chương và 55 điều. Điều 1 của luật tái khẳng định tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

____

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Trích: LÝ ĐĂNG THẠNH – LỊCH SỬ VIỆT NAM

– Tập 2: CÁC VƯƠNG QUỐC CAMPA (192-1832), KHMER (802-1863) VÀ LÀO (1353-1949)

– Tập 4: NƯỚC VIỆT THỜI TRỊNH-NGUYỄN PHÂN TRANH

– Tập 5: NƯỚC VIỆT NAM THỜI TRIỀU NGUYỄN TỰ CHỦ

– Tập 7: ĐÔNG DƯƠNG THUỘC PHÁP (1)

– Tập 9: CUỘC CHIẾN ĐÔNG DƯƠNG LẦN NHẤT

– Tập 11: NƯỚC VIỆT NAM CỘNG HÒA

– Tập 12, 13, 14: CUỘC CHIẾN ĐÔNG DƯƠNG LẦN HAI

– Tập 15: CUỘC CHIẾN ĐÔNG DƯƠNG LẦN BA VÀ THỜI SAU ĐÓ

– Tập 16: NƯỚC VIỆT NAM THUỘC CỘNG (1)

– Tập 22: THƯ MỤC THAM KHẢO VÀ CHỈ MỤC TRA CỨU

https://anhbasam.wordpress.com/2016/07/13/9138-tranh-chap-chu-quyen-tren-vung-bien-dong-nam-a-phan-3/

TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN TRÊN VÙNG BIỂN ĐÔNG NAM Á (PHẦN 2)

TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN TRÊN VÙNG BIỂN ĐÔNG NAM Á (PHẦN 1)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: